Nắng lên khá cao. Trời xanh trong vắt, không một gợn mây.
Bầu trời mùa Xuân mới đẹp làm sao. Nắng cao nhưng không gay gắt lắm, thế mà trên trán những người lính cũng lấm tấm mồ hôi. Lưng áo cũng đã ướt đẫm.
Họ bắt đầu cuộc hành quân từ sáng sớm đến giờ.
Vượt qua mấy cánh đồng lác, sình lầy ngập gần đến đầu gồi.
Rồi lại băng qua những khu rừng dừa nước âm u, với đầy dẫy những mìn chông, cạm bẫy.
Họ lặng lẽ bước như những cái bóng. Những cái bóng đi gìn giữ mùa Xuân cho đời.
Giờ này, nơi phố xá phồn hoa, người ta vẫn thản nhiên thụ hưởng bao niềm vui bất tận, mấy ai có thì giờ nghĩ đến những kẻ đang lặn lội giữa đồng chua, nước mặn như thế này.

Bỗng tiếng Trung sĩ nhất Hà, Trung đội phó vang lên nho nhỏ:
– Ê Năm, nói ba thằng đệ tử mày đi xuống ruộng giùm tao đi, nếu không muốn để lại cái ống quyển cho mấy thằng Vẹm làm ống điếu…
– Nè! Mấy thằng mắc dịch, lội xuống ruộng mau lên. Thấy bờ đê là tươm tướp hà!
Vài người lính mệt mỏi bì bõm dưới nước, mon men đến bên con đê nhỏ đang nằm mời gọi một cách quyến rũ. Bị Trung sĩ Năm, Tiểu đội trưởng quát, vội bước trở xuống ruộng.
Dầm nước từ sáng sớm đến giờ, nhìn thấy cái bờ đê khô ráo như thế, dĩ nhiên ai cũng muốn được đặt chân lên. Cái bờ đê có những bụi cỏ non xanh mướt, giữa tiết trời mùa xuân, với họ lúc này có lẽ còn êm ái hơn cái võng nylon mà họ vẫn đong đưa hằng đêm.
Ước gì được ngả lưng nằm dài trên đó, gối đầu lên nón sắt, đốt một điếu Ruby Quân Tiếp Vụ, sảng khoái nhả khói, ngước nhìn bầu trời xanh thăm thẳm kia thì sung sướng biết bao.
Ôi! Hạnh phúc của những người lính sao mà nhỏ nhoi, giản dị là thế.
Ước mơ của họ mới nhẹ nhàng, an bình làm sao!
Nhưng, những chỗ tưởng chừng là an bình lại là nơi kẻ thù sẵn sàng lợi dụng để đặt những cạm bẫy chết người.
– Thẩm quyền, ông Hà muốn gặp ông nè.
Hạ sĩ Quý, âm thoại viên vừa nói vừa đưa ống liên hợp cho anh.
– Hồng Hà, Tango tôi nghe đây!
– Trình Tango, phía trước mặt có con rắn nhỏ* mình băng qua luôn hay dừng lại?
– Coi mé bên kia ra sao?
– Cũng trống trải lắm, Tango.
– Nếu dễ quan sát thì anh cho giậm chân tại chỗ trên con rắn đó đi. Nhớ gởi hai thằng em ra nhòm ngó hai đầu nhe.
– Tuân lịnh.
– Nè, nhắc nhở con cái cẩn thận, coi chừng ông địa cười* đó.
– Nhận 5/5 Tango.
Ðoàn quân chậm dần lại. Thụy cố bước nhanh vượt hết khoảng ruộng lác sình lầy.
Tiểu đội đi đầu đã bố trí xong hai người gác khi Thụy đặt chân lên con đường đất đỏ khá rộng.
Ðây là trục lộ nối liền hai xóm nhỏ hẻo lánh giữa rừng dừa nước bạt ngàn.
Phương tiện di chuyển chính của cư dân vùng này là xe đạp, xe bò và “lô ca chân”.
Trên mặt đường đầy dấu bánh xe bò ngoằn ngoèo, chằng chịt.
– Quý đưa máy anh nói chuyện với Hồng Hà coi.
– Dạ có đây Tango.
– Hồng Hà tôi nghe đây Tango.
– Gần 11 giờ rồi, cho con cái lo cái bao tử đi, đúng ngọ mình zulu*.
– Rõ năm trên Tango!
– Không được lơ là chuyện nhòm ngó hai đầu nhé.
– Dạ!
– Mình cũng ăn cơm luôn hả Thẩm quyền?
Lê, liên lạc viên đứng bên, cất tiếng hỏi.
– Ừ! Lê tìm chỗ nào khô ráo nấu nước pha cho anh ly cà phê.
– Có ngay thẩm quyền. Nhưng để em đi tìm chỗ an toàn đã.
Lê là một thanh niên lanh lẹ, nên chỉ một lát sau mấy thầy trò đã tụ tập dưới một tàn cây khá rậm rạp, khả dĩ che bớt ánh nắng bắt đầu gay gắt dần.
– Mày quan sát chỗ này kỹ chưa vậy Lê?
Quý hỏi, trong khi đang tháo ba lô xuống.
– Xong rồi hạ sĩ, không có dấu vết khả nghi nào cả.
– Không cẩn thận, ngồi mẹ nó lên ông địa là lúa đó nhe em.
– Hạ sĩ yên tâm, em còn yêu đời lắm mà.
Dưới bóng cây là một mảng cỏ non xanh mơn mởn, nhưng đã bị nằm rạp xuống, chứng tỏ những người dân trên đường qua lại giữa hai xóm đã thường dừng chân nghỉ ngơi tại đây.
Thụy móc túi lấy ra gói Pallmall châm một điếu nhả khói, rồi cầm bản đồ, địa bàn định hướng vị trí.
Quả nhiên từ đây đến khu dân cư không xa là mấy. Có lẽ chỉ qua cánh rừng dừa nước nhỏ này là đến những mảnh ruộng của người dân trong xóm.
Ðời sống đồng bào nơi này thật vô cùng cơ cực, chỉ cách Thủ Ðô Saigon hoa lệ vài chục cây số, nhưng khoảng cách về mức sống và dân trí thì có lẽ phải đến vài chục năm. Nên họ dễ dàng bị bên kia tuyên truyền lợi dụng, thậm chí cả o ép.
Rất lâu mới có những đơn vị chủ lực hành quân qua đây. Mà có cũng chỉ để chống pháo kích như đơn vị anh bây giờ. Còn lại là giao khoán cho các lực lượng địa phương. Mà văn phòng xã ấp cũng chẳng gần gũi gì. Ðể rồi tình trạng an ninh rất bấp bênh như một vùng xôi đậu…
Với một chút C4 lúc nào cũng thủ sẵn trong ba lô, vài phút sau Lê đã bưng một ca cà phê thơm lừng đến bên Thụy, nói:
– Có cà phê rồi nè thẩm quyền.
– Ðể Tango ăn cơm trước đã chứ, mày đưa cà phê ổng uống no ngang rồi sao ăn? Quý nạt Lê.
– Tại thẩm quyền muốn uống cà phê mà, nhưng đồ ăn em cũng hâm nóng rồi kìa.
Thụy lên tiếng giảng hòa:
– Hai đứa ăn đi, tao không thấy đói. Có lẽ sáng nay ăn mấy miếng bánh chưng nên còn no.
– Hổng biết chị Thư Cúc mua bánh chưng ở đâu mà ngon quá trời luôn.
– Chị Cúc đẹp người mà cái nết cũng tốt nữa.
– Người yêu của Tango mà mậy.
– Tụi mày biết đếch gì về cô ấy mà tán tụng dữ vậy…
– Mấy lần chỉ lên hành quân thăm Tango, tụi em có nói chuyện mà.
– Tội nghiệp chỉ ghê đi há, Hạ sĩ! Mình đóng quân ở đâu cũng lặn lội tới thăm…
– Ừa! Từ Bình Ðiền, Bình Chánh đến Tân Bửu, Chợ Ðệm không nơi nào thiếu bóng dáng của chỉ…
– Hổng biết chừng nào Thẩm Quyền cho mình uống rượu đây Hạ Sĩ?
– Thôi nha! Tụi bay đi quá xa rồi đó. Lo ăn cơm đi.
Bị Thụy nạt ngang, hai cậu nhóc nín khe, xúm xít vào bữa cơm trưa gồm một bịch gạo sấy và hai hộp thịt ba lát kho chung với những miếng măng tre lượm lặt ở đâu đó.
Thụy ngồi dựa lưng vào thân cây, phóng tầm mắt ra cánh đồng lác ngút ngàn.
Chỉ vì tham vọng của những kẻ cuồng tín, phục vụ mưu đồ đen tối bằng cách gây chiến tranh, nên những mảnh đất này bị bỏ hoang nhiều năm tháng. Nếu không, với sự cần cù, chăm chỉ của người dân miền Nam, nơi đây sẽ thành những ruộng lúa phì nhiêu, cò bay thẳng cánh. Và đời sống người dân sẽ sung túc biết chừng nào.
Khi đơn vị dừng chân ở những thôn xóm nghèo nàn, mái tranh vách lá, với những căn bếp lạnh tanh buổi chiều về, lòng anh buồn vô hạn.
Nhìn những em bé bụng ỏng đít teo, quấn quýt bên anh em binh sĩ, mắt sáng rỡ để đón nhận những hộp thịt gà, những bịch gạo sấy, thấy thương làm sao.
Tuổi thơ Việt Nam, những mầm non của Tổ Quốc, nòi giống Rồng Tiên là đây sao?
Lớp trẻ này lớn lên sẽ đi về đâu?
Cơm còn chưa đủ no, nói chi đến chuyện học hành. Và thế là họ bị nhồi nhét những ước mơ hoang tưởng về một thiên đường hư ảo.
– Thẩm quyền. Hồng Hà muốn nói chuyện với ông nè!
– Tango tôi nghe đây Hồng Hà.
– Tango đến đây ngay đi, có chuyện cần giải quyết.
Thụy buông ca cà phê, đứng dậy nhanh nhẹn đi về hướng Trung sĩ nhất Hà đang túm tụm với một số anh em binh sĩ.
– Chuyện gì vậy ông Hà?
– Thằng Sự vô lùm cây kia đi đái, nó thấy có một vật giống như cái bọc nylon lòi lên, ông vô coi thử.
Thụy theo chân Hà thận trọng đi vào nơi Sự vừa đi tiểu.
Ðó là một lùm cây không rậm rạp lắm, nằm trên con đê nhỏ giữa ruộng lác. Sau khi quan sát kỹ, Thụy quay lại nói với Hà:
– Ðúng là chỗ bọn chúng chôn tài liệu hoặc vũ khí đây. Bây giờ anh ra cho hai toán gác chận hai đầu đường, không để dân chúng qua lại trong lúc chúng ta khai quật chỗ này. Kêu thằng Tư, tiểu đội trưởng thám báo lại cho tôi.
Hà quay ra thi hành mệnh lệnh, vài phút sau Tư đến trình diện. Thụy nói:
– Tư, mày đi coi anh em nào có dây vượt sông gom hết lại đây cho anh.
– Dạ, thẩm quyền.
Vài phút sau, hắn mang lại cho Thụy mấy đoạn dây dù.
– Nối các đoạn dây lại với nhau, càng dài càng tốt.
Sau khi đã có một sợi thật dài, Thụy bảo Tư:
– Bây giờ mày cột vô đầu cái bao nylon kia, nhớ cẩn thận đó, coi chừng tụi nó chôn mìn hay lựu đạn bên dưới. Tất cả mọi người tránh xa ra.
– Xong rồi thẩm quyền.
– Cột chắc không vậy Tư?
– Dạ chắc ăn như bắp. Hình như có một mũi súng lòi lên, em cột ngay vô đó, có chạy đàng trời.
Mọi người trở lên mặt lộ. Tư cầm theo đầu dây còn lại.
Khi tất cả đã tìm được các gốc cây ẩn núp, Tư bắt đầu kéo.
Không khí chùng xuống.
Nhưng, khi cái bao nylon đen theo sức kéo của Tư đã phơi mình trên mặt đất, và còn lết thêm một đoạn nữa, cũng không có chuyện gì xảy ra, anh em đều thở phào một cách nhẹ nhõm, ùa lại coi tang vật. Thụy vội lên tiếng:
– Một mình thằng Tư thôi, tất cả tránh xa ra.
Dùng mũi lưỡi lê, Tư nhẹ nhàng rọc ngang cái bao.
Phơi bày ra trước mắt Thụy là một khẩu K.59, hai cây AK.47 sáng giới cùng mấy dây đạn và một quyển sổ tay nhỏ.
Mấy anh em binh sĩ ồn ào bàn tán:
– Vô mánh rồi ông thầy ơi!
– Món quà đầu Xuân đầy ý nghĩa.
Thụy cầm quyển sổ tay lên lật qua vài trang, quay lại nở nụ cười thật tươi hưởng ứng lời nói của người trung đội phó, Hà tiếp:
– Ðóng “phinh” đi thẩm quyền!
– Anh nói vậy là sao?
– Mình đánh trận giả…
– Tầm bậy tầm bạ không hà…
– Như vậy, vũ khí mình tịch thu được mới có giá trị chứ!
– Khỏi đánh trận giả, mà sẽ có trận thiệt tối nay nè.
Vừa nói Thụy vừa dứ dứ quyển sổ tay trước mặt Hà, anh ta tròn mắt lên bước đến sát bên Thụy:
– Bộ có tin tức gì hả Tango?
Thụy không trả lời ngay câu hỏi của Hà, mà nói nhỏ vào tai anh ta:
– Tối nay bọn chúng sẽ đến đây mang số vũ khí này đi. Nên việc trước tiên là anh cho tìm mấy khúc cây thay vào hai khẩu AK và đem chôn lại đúng vị trí cũ. Sau đó, chúng ta phải rút sâu vào trong rừng dừa nước, đợi đến lúc trời tối mới ra phục kích chờ mồi.
Mọi việc được thi hành nhanh chóng. Tất cả những dấu vết của cả một trung đội vừa dừng chân được tẩy xóa sạch sẽ, như chưa hề có ai mới đặt chân trên con lộ này, và cái bao vũ khí cũng trả về đúng vị trí cũ, với lớp lá cây mục phủ lên.
Toán quân rút sâu vào trong rừng dừa nước bạt ngàn, để chuẩn bị cho cuộc chiến tối nay.
Thụy gọi máy báo cáo với đại đội vị trí đóng quân, nhưng không nói rõ về kế hoạch phục kích của anh.
Ðể bảo đảm bí mật cho công tác, cả trung đội phải ém quân thật kỹ.
Chưa bao giờ anh em chịu khổ sở như vậy. Im lặng tuyệt đối, không nấu nướng củi lửa gì cả.
Gần ba mươi mạng người lầm lì, lặng lẽ như những bóng ma.
Càng ít di chuyển càng tốt. Cho đến khi ánh trăng thượng tuần le lói trên những ngọn dừa nước thì cả trung đội đã vào vị trí phục kích một cách êm thắm.
Hai tiểu đội nằm cặp theo hướng Nam con lộ lớn, cùng phía với doi đất có miếng mồi ngon và cách mục tiêu độ hơn trăm thước để khóa chân khi bọn chúng tháo chạy. Tiểu đội thám báo lãnh nhiệm vụ chính là thanh toán những chú “vịt con”.
Thụy nằm chung với tiểu đội thám báo.
Tất cả đều ngâm nửa thân người dưới nước phèn cạnh con đê nhỏ.
Thời gian chầm chậm trôi. Không gian tĩnh lặng.
Chỉ có tiếng gió nhẹ vờn qua khe lá vi vu, và tiếng reo hò của đàn muỗi đói được một bữa tiệc no nê. Dù tất cả các chai thuốc chống muỗi đã sử dụng triệt để, vẫn không ngăn chặn được đàn muỗi rừng đói khát lâu ngày.
Có tiếng nước khua động từ xa vọng tới bởi bước chân giẫm lên. Những âm thanh bì bõm lúc càng gần hơn, anh lắng nghe thật kỹ, phân tích và phán đoán bọn chúng chỉ khoảng ba, bốn tên.
Mọi người hồi hộp chờ đợi. Chẳng bao lâu sau đó dưới ánh trăng thượng tuần mờ ảo, đã hiện ra ba bóng người đang lần mò đi về hướng mục tiêu.
Hình như bọn chúng nghĩ rằng nơi đây là mật khu an toàn, nên không hề có lấy một chút cảnh giác.
“Tách”…
Tiếng nổ của trái mìn chiếu sáng vang lên trong bóng đêm.
Một vùng ánh sáng bao trùm chung quanh mục tiêu.
Pằng pằng pằng…
Tiếng M.16 khai hỏa nổ giòn. Thi thể ba tên địch đầy vết đạn, nằm vất vưởng trên bờ đê, mà vẫn chưa với tay được đến cái bao lynon đựng “củi mục”.
Sáng sớm hôm sau, đơn vị có lệnh rút về bộ chỉ huy đại đội đóng tại Cầu Ông Thìn. Một số anh em sẽ nhận huy chương các loại. Còn Thụy thì được về thăm nhà, với tờ giấy phép hai mươi bốn giờ đang nằm trong túi áo anh.
o O o
Bước nhanh ra khỏi cái bến xe ồn ào, Thụy chọn một người đứng tuổi trong số những tài xế xe ôm đang nhao nhao mời khách.
Thót lên yên sau, anh thúc giục:
– Ðưa giùm tôi về Khu Lăng Cha Cả. Mau mau lên bác tài, gấp lắm.
– Yên tâm đi Thiếu úy. Tôi chạy hết sẩy mà. Bộ ít phép lắm hả.
– Có hai mươi bốn tiếng, mà đi đường mất mẹ nó mấy tiếng rồi.
– Bởi vậy ông Nhạc sĩ Trúc Phương mới viết 24 Giờ Phép:
…Bốn giờ đi dài, thêm bốn giờ về,
Thời gian còn lại, anh cho em tất cả em ơi!
Dúi vào tay người lính cũ số tiền nhiều hơn cuốc xe ấn định, Thụy nhảy chân sáo lên thềm. Trong nhà vắng tanh.
– Cả nhà đi đâu rồi?
Cô em gái từ nhà sau chạy ra mừng tíu tít:
– Anh mới về phép hả?
Vừa đẩy chiếc Honda 67 ra ngõ, Thụy vừa nói vói lại:
– Anh đi công chuyện, nói cậu mợ đừng chờ cơm, tối anh mới về.
– Lại đi tìm chị Thư Cúc chứ có công chuyện gì!
Phớt lờ lời càm ràm của cô em gái, Thụy rồ máy, chiếc xe hòa vào dòng xe cộ đang ngược xuôi tấp nập.
Dù đã qua Tết hơn một tuần lễ, nhưng hương vị mùa Xuân vẫn còn phảng phất trong lối sống của người dân Sàigòn.
Những tấm liễn đủ màu sặc sỡ vẫn còn lủng lẳng trước cửa nhà, phố xá vẫn vất vưởng đầy xác pháo và người ta ra đường vẫn ăn mặc rất “kẻng”.
Ðã mấy năm rồi, anh luôn đón Xuân ở những nơi khỉ ho cò gáy. Tuy thế, Thụy cũng thấy an ủi là mình đã góp chút sức mọn để Sàigòn có những giây phút trọn vẹn của mùa Xuân…
Dù đã cố gắng tăng hết ga, luồn lách như người ta làm xiếc, thì khi Thụy đến được trước cửa trường St. Thomas tiếng chuông vào học cũng vừa chấm dứt.
Dựng vội chiếc xe dưới thềm, anh phóng đến cánh cửa sắt đang được từ từ kéo lại bởi vị Giám Thị già nổi tiếng là nghiêm khắc.
– Thưa thầy! Từ từ cho em nhờ tý đã!
– Chuyện gì đấy Thiếu úy?
– Em mới về phép, cần gặp người em có chút chuyện, xin thầy giúp cho.
– Xin lỗi Thiếu úy! Bây giờ các em đã vào lớp cả rồi!
Thụy khẩn khoản:
– Em biết! Nhưng chuyện cần lắm, thưa thầy! Hơn nữa, sáng mai em phải lên hành quân rồi…
Vị Giám Thị đã đóng xong cánh cửa lớn, bóp khóa cái cửa nhỏ bên hông, rồi nói như để chấm dứt câu chuyện:
– Thiếu úy chịu khó chờ khi các em tan học nhé! Chào Thiếu úy!
Thụy đứng thẫn thờ nhìn ông giáo già lạnh lùng quay lưng chậm bước theo hành lang vắng vẻ dài hun hút, anh cảm thấy đường lên đơn vị của mình vào ngày mai chắc cũng sẽ dài và trống vắng như vậy.
Nặng nề quay xe trở ra đường Trương Minh Ký, và cứ thế Thụy để chiếc Honda 67 lượn lờ trên đường phố như con thuyền không bến.
Hơn hai tuần trước Thư Cúc đã bỏ buổi tiệc tất niên của trường, lặn lội lên hành quân thăm anh. Chẳng may, lúc ấy đơn vị còn đang trong vùng, nên không được gặp nhau. Thế là cô gởi lại một số quà Tết, rồi lủi thủi ra về.
Hình ảnh cô bé bỏng giản dị trong chiếc áo dài trắng, thất tha thất thểu đón xe lam, chờ xe đò giữa trưa nắng cháy trên những đoạn đường vắng vẻ, mịt mờ bụi đỏ làm Thụy như thắt cả ruột gan.
Tình yêu của cô dành cho anh thật vô cùng nồng nàn và cao quý.
– Bao giờ em cũng là người lặn lội đi tìm anh…
Phải! Lúc nào cô cũng là người chấp nhận sự thua thiệt.
Những ngày mới yêu nhau, biết gia cảnh anh khó khăn, vì đang lúc tản cư, cô luôn luôn tế nhị gói ghém trong các cuộc đi chơi của hai đứa.
– Ðể em trả tiền cho, như thế người ta sẽ nghĩ hai đứa mình là vợ chồng.
…Tin…tin…
Tiếng còi xe của ai đó vang lên từ phía sau, có lẽ vì thấy anh chạy lạng quạng, làm Thụy chợt bừng tỉnh. Quay đầu nhìn lại, tỏ dấu xin lỗi, Thụy chợt nhận ra mình đang đi ngang trường Lê Bảo Tịnh. Vài tà áo dài trắng thướt tha trên hè phố khiến anh nhớ Thư Cúc quay quắt.
Gần đến chợ Trương Minh Giảng, nhìn thấy ở một sạp báo có tấm bảng “ Ðiện Thoại Công Cộng” Thụy chợt nảy ra ý tưởng nghịch ngợm.
“…Mình phải liều thôi, nếu không thật phí một chiều Xuân đẹp đẽ thế này”.
Anh quay xe trở lại trước cửa trường St. Thomas, ghi nhanh số điện thoại văn phòng vào mảnh giấy nhỏ, rồi rồ ga quành lại sạp báo.
…Reng…reng…reng…
– A lô! Văn phòng trường Saint Thomas chúng tôi nghe đây. Xin lỗi ai đầu dây?
– Thưa bà chúng tôi gọi đến từ phòng cấp cứu của Bịnh Viện Chợ Rẫy.
– Chúng tôi có thể giúp gì cho ông ạ?
– Có một nạn nhân vừa bị tai nạn giao thông khá trầm trọng, có thể không qua khỏi. Nên gia đình nhờ chúng tôi gọi đến quý trường để cho cô con gái của nạn nhân đến gặp ông trước khi quá muộn.
– Ðược, chúng tôi sẽ cho về ngay. Em tên gì và học lớp nào vậy?
– Dạ tên Ngô Thư Cúc lớp đệ nhị A2.
– Tôi sẽ thông báo ngay với thầy Giám Thị và vị Giáo Sư đang có giờ ở lớp em. Cầu nguyện Thượng Ðế ban phước lành cho ông ấy.
– Cám ơn bà rất nhiều! Chào bà.
Gác máy điện thoại xong, Thụy thẫn thờ suy nghĩ:
“…Mình đã làm một việc quá táo bạo…”
Nhưng biết làm sao được, mọi chuyện đã rồi, nếu không tới đón, cô càng hoảng loạn hơn nữa.
Thụy quay xe đi ngược về hướng Lăng Cha Cả, trong lòng buồn lo lẫn lộn. Chẳng hiểu Thư Cúc sẽ phản ứng ra sao khi biết anh dùng cái kế hạ sách này để được gặp cô. Và lại dám lôi ông “via” ra làm nạn nhân.
Thụy dừng xe phía ngoài, nhưng chọn vị trí mà từ đó vẫn có thể nhìn suốt dãy hành lang dài hun hút phía sau cánh cửa sắt có ô mắt cáo.
Giây phút chờ đợi thật lê thê.
Thời gian mình từ chợ Trương Minh Giảng về đến đây đủ để cô ấy ra rồi, sao vẫn chưa thấy? Hay là có gì trục trặc? Không đâu! Trường hợp khẩn cấp thế này, nhất định phải cho về.
Tim anh chợt rung lên những thanh âm hạnh phúc, khi thấy bóng dáng nhỏ bé, giản dị của Thư Cúc từ văn phòng bước ra.
“…Chết cha rồi! Cũng là vị giám thị ấy… Biết làm sao đây?
Mà sao cô ấy thản nhiên thế nhỉ? Chắc nhà trường không thông báo chi tiết, vì có thể gây hoảng hốt cho cô. Ðã thế, mình cũng chẳng nhắc đến lý do ấy làm gì”.
Anh đạp máy cho xe nổ sẵn, đợi ông Giám Thị già mở cửa xong, và Thư Cúc đã bước hẳn ra ngoài, Thụy vặn tay ga, chiếc Honda 67 như một mũi tên lìa cung, vọt thẳng đến trước cái cổng sắt nhỏ đang được từ từ kéo lại.
Tiếng nổ inh ỏi của chiếc xe xoáy nòng, giữa không gian yên tịnh trong khuôn viên nhà thờ, khiến vị giáo già giật nẩy mình. Qua làn mục kỉnh, dưới ánh nắng chập choạng, ông chợt nhận ra viên Sĩ Quan trẻ tuổi trong bộ đồ trận màu hoa rừng, với cái Mũ Nâu nghênh ngang trên đầu. Ông biết là mình đã mắc hợm, nên la to;
– Ơ…Thiếu úy, Thiếu úy…
Thư Cúc cũng ngạc nhiên khi thấy sự xuất hiện bất ngờ của Thụy:
– Anh về bao giờ? Sao lại biết mà đến đón em?
– Em lên xe mau đi, kẻo lỡ hết mọi chuyện. Anh sẽ giải thích sau. Nhớ ngồi cho vững.
Khi cô đã an vị, anh nhìn vị giám thị già, cười cầu tài:
– Em xin lỗi thầy….
Thụy rồ ga, anh vẫn còn nghe văng vẳng:
-…Ðúng là…Nhất quỷ nhì ma…thứ ba…là lính…
DTT
Thủy Gia Trang
* Con rắn nhỏ: Đường mòn.
* Ông Địa cười: Mìn nổ.