Sau chiến tranh, có những người lính không trở về, ở cả hai phía. Họ chết đi, mà không để lại thân xác, không cả một nấm mồ; gia đình chỉ được biết vài thông tin mơ hồ về cái chết của họ. “Anh ấy ngã xuống ở ven bờ sông A.”; “Anh ấy tắt thở trên ngọn đồi B”… chỉ có thế thôi.

Có ngôi mộ chôn tập thể dài cả chục mét.
Việc không tìm được thân xác người thân để dựng cho họ một nấm mồ là nỗi đau đớn trong lòng người còn sống.

Khi gia đình không tìm được di hài người thân, thì họ lập những ngôi mộ tượng trưng, được gọi là “mộ gió”. Hiện nay, những ngôi mộ gió này hiện diện rất nhiều nơi trên đất nước, cho những người đã chết ở cả hai phía, Nam và Bắc.
Người thân mang nắm đất ven con sông, hay trên đỉnh đồi, đúng nơi người chiến binh ngã xuống, xem nắm đất ấy như là hài cốt của anh rồi mang về chôn cất và lập mộ; nắm đất ấy cũng tượng trưng cho vong hồn người đã khuất. Họ cũng làm đám tang theo nghi lễ chiêu hồn và an táng tượng trưng để vong linh người thân có thể trở về an nghỉ nơi quê nhà.
Tuy nhiên, mộ gió còn là một mặt hàng để mua bán. Chúng cũng là những ngôi mộ được đắp bằng ụ đất giống y ngôi mộ thật, bên dưới không có xác người; nhưng người ta lập nên chúng với mục đích để “xí đất” chứ không phải làm phần mộ cho người thân của mình. Khi có mộ rồi thì miếng đất ấy trở nên của mình, vì không có ai dám đào lên xem có thi hài bên dưới hay không, chỉ chờ có khách hàng và được giá thì bán lại.
Để làm một mộ gió, người ta phải nhờ một thầy pháp làm lễ. Người thầy pháp này lên miệng núi lửa trên đảo moi đất sét về, rồi nắn thành hình nhân theo sự mô tả nhân dạng của thân nhân, theo đúng kích thước của thân thể người chết. Hình nhân đàn ông có bảy nhánh xương sườn, còn hình nhân đàn bà thì có chín nhánh, đều làm bằng cành cây dâu. Thầy chẻ đôi cành dâu rồi xếp vào bụng làm xương sườn; dùng tơ tằm làm những sợi gân. Các lóng xương sống, xương tay chân đều được làm bằng thân cây dâu. Phổi làm bằng than, do đốt cây “thụ đao”, một giống cây trái có chùm, bông trắng, mọc trên đảo. Lá gan là vốc đất đen được nhào với nước rồi nặn thành. Hình nhân có đủ mọi bộ phận trên thân thể, quan trọng nhất là bộ phận sinh dục. Thầy pháp phải nặn bằng hết số đất sét mang về, không bỏ sót chút nào vì tin rằng số đất này là tượng trưng cho da thịt của người chết, không được hoài phí, sẽ làm đau lòng người chết vì da thịt của họ bị mất mát. Rồi thầy dùng lòng đỏ trứng gà đánh lên rồi phết khắp hình nhân. Khi lòng trứng khô đi, lớp áo lòng trứng thành da, trông giống như da người. Người thân mặc quần áo và đồ liệm cho hình nhân, đặt linh vị trên mặt, rồi khiêng hình nhân đặt vào quan tài. Người ta thả mô hình một cỗ thuyền chất những mâm lễ vàng bạc và lương thực xuống biển, để cúng linh hồn người chết cùng các vị hải thần.

Nhiều ngôi mộ được người thân rào chắn và che bằng rơm rạ đàng hoàng.
Làm lễ chiêu hồn xong, người ta tin rằng linh hồn người chết mất xác đã trở về nhập vào hình nhân để an nghỉ, phù hộ cho những người thân còn sống. Người ta thả quan tài xuống huyệt và lấp đất, đắp mồ. Nếu biết ngày giỗ thì tốt, còn không người ta sẽ chọn ngày người thân ra khơi để làm ngày giỗ, rồi ra thắp hương tảo mộ như những ngôi mộ bình thường. Nhiều nấm mộ gió được chôn từ hàng trăm năm trước, khi đào lên cải táng, người ta thấy các hình nhân vẫn còn nguyên vẹn.

Tượng đất sét thay thi hài để làm mộ gió cho thuyền trưởng Lê Minh Tân. Thuyền trưởng Lê Minh Tân đi trên tàu QNg 66192 đã mất tích tại Hoàng Sa từ ngày 24-12-2010.

Ngôi mộ gió đầu tiên ở Lý Sơn là mộ của ông cai đội Phạm Quang Ảnh cùng 24 chiến binh của hải đội Hoàng Sa từ thời vua Gia Long.
Chúng tôi đến thăm ông Võ Hiển Đạt ở Âm Linh Tự, ngôi chùa thờ những tử sĩ của hải đội Hoàng Sa, những người lính Việt Nam đầu tiên cắm mốc và bảo vệ chủ quyền vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời vua Gia Long; ông Đạt ở thôn Đông, xã An Vĩnh, bà con gọi là ông “ông đồ cuối cùng của đảo Lý Sơn”.
Ông đưa chúng tôi ra thăm ngôi mộ gió của ông Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật. Vào năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh vua mang hải đội ra Hoàng Sa rồi mất tích trong bão biển. Người dân thương tiếc lập mộ gió để thờ cúng ông.
Mỗi năm có hàng chục ngôi mộ gió mọc lên ở rải rác khắp các bãi biển trên đảo Lý Sơn. Nhất là sau những trận bão lớn, có lúc người ta phải làm lễ an táng, chiêu hồn cho cả chục ngư dân không trở về. Khi đó trên bãi biển, quan tài sắp nối nhau hàng dãy, khói hương nghi ngút, tiếng than khóc vang trời.

Ngôi mộ gió này nằm giữa một khu ruộng cát trồng hành. Trên bia ghi rằng: “Suất đội, chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật, húy Phạm Văn Triều, phường An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Con ông Phạm Văn Nhiên, thế hệ thứ tư thủy tổ tộc họ Phạm Văn. Sinh năm [ở đây bị xóa hai chữ] (1804) mất năm Giáp Thân (1854).Chính sử triều Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên, Quốc triều chính biên toát yếu, Khâm Định Đại Nam hội diễn sự lệ, cùng châu bản đều ghi rất rõ vào năm Minh Mạng thứ 17 (Bính Thân, 1836) Phạm Hữu Nhật đã đưa binh thuyền đi xem xét, đo đạc, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa. Cũng từ đây thành lệ hàng năm.
Trên mỗi binh thuyền đều đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài gỗ khắc những chữ như sau: “Minh Mạng thập thất niên bính thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương độ chí thử lưu chí đẳng tự”. Sự kiện này là một trong những bằng chứng không thể chối cãi trong sự chiếm hữu thật sự của nhà nước Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Hoàng Sa đi dễ khó về! Các miễu thờ lính Hoàng Sa cũng như lễ khao lề lính Hoàng Sa hàng năm vào ngày 20 tháng hai Âm Lịch luôn có linh vị: “Phục vì vong Cao Binh Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chư linh vị”, là bằng chứng hùng hồn hậu thế ghi ơn công đức Phạm Hữu Nhật cùng các “vị quốc vong thân” để xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa! Cẩn chí, 20-2-Ất Dậu Nguyễn Nhã, tiến sĩ sử học (Ủy viên B.C.H Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam)
Ngày nay, chiến tranh đã qua đi hơn 36 năm, Lý Sơn vẫn không bớt đi những ngôi mộ gió, mà ngược lại, ngày càng thêm nhiều ngôi được lập. Nguyên nhân của cái chết không chỉ đến từ những rủi ro và sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mà còn đến từ dã tâm của chính quyền Trung cộng. Chúng đã chiếm lấy quần đảo Hoàng Sa của chúng ta vào năm 1974, và đang lăm le chiếm luôn quần đảo Trường Sa trước sự ứng phó khiếp nhược của chính quyền Hà Nội. Hiện nay nạn nhân đầu tiên, cũng là chủ nhân của những ngôi mộ gió sẽ được lập, là những ngư phủ nhiều vùng biển trên khắp đất nước, trong đó nhiều nhất là ở vùng đảo quý báu, tươi đẹp và quá nhiều đau khổ thương khó Lý Sơn này.

Trên đảo Lý Sơn có nhiều nấm mộ hoang, và có đến hàng mấy trăm ngôi mộ gió được lập, chúng nằm im lìm trên những bãi cát, trên những ruộng tỏi, bên bãi biển; có nhiều ngôi nằm san sát cạnh nhau, thẳng hàng, hướng ra trùng dương, dưới cái nắng khô khốc, cháy người.

Ở Huế và vài nơi khác, rất nhiều người làm giàu nhờ xí phần và bán mộ gió. Có nhiều hạng giá, có khi lên đến 5 triệu đồng một ngôi mộ, bèo cũng 3 triệu. Làm sao phân biệt được mộ thật hay mộ gió, bên dưới có xác hay không? Có người bày rằng cứ nhìn những ngôi mộ nào được un bằng đất nhưng không có chân nhang cắm trên thì có thể là những ngôi mộ gió; tuy nhiên điều đó cũng không chắc. Có người chiếm và lập những khu mộ gió rộng cả một ngọn đồi, mộ sắp đều san sát dày như câu hát “mộ bia đều như nấm…” của Trịnh Công Sơn. Thời buổi đất chật, người đông, đất cho người chết cũng trở nên khan hiếm như cho người sống.
Chúng tôi nghĩ rằng, hình thức những ngôi mộ gió, những ngôi mộ trống, không có hài cốt bên dưới này, nhiều phần được mô phỏng theo những ngôi mộ của tiền nhân đã lập ở đảo Lý Sơn.
NĐ