Menu Close

Ngày ta bỏ núi (kỳ 3)

Kiến Đức, Gia Nghĩa, Nhơn-Cơ là những thị trấn đèo heo hút gió của tỉnh lỵ Quảng Đức, một tỉnh miền núi áp sát biên giới Kampuchia và đối diện với mật khu Bù Gia Mập của Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Chỉ với một vị trí như vậy đã cho thấy những khó khăn của lính Cộng hòa; vì phía nam quốc lộ 14 đã bị cắt từ sau khi thị xã Phước Long bị tràn ngập, phía bắc sau khi Buôn Mê Thuột thất thủ. Tuy chịu giáp công ba mặt, Tiểu đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu tá Vương Mộng Long đã chiến thắng tất cả các trận đánh cấp tiểu đoàn, là những dòng chữ ghi lại trong chương này. Với mâu thuẫn tàn nhẫn: Chiến thắng, tịch thu vũ khí của đối phương mà vẫn phải phá hủy đại bác rồi bỏ quận lỵ rút quân. [Trần Vũ]

lien-lac-vo-tuyen

Sáng 21/3/75, tôi chuẩn bị đánh một trận nhổ chốt thần tốc. Tôi xin pháo binh của tiểu khu một hỏa tập thu gọn trong ô vuông mỗi chiều 1 cây số từ đầu tới cuối khúc đường chữ “S”. Pháo 105 ly Nhơn-Cơ bắn không ngừng từ khi tôi xuất quân, và chỉ được phép chấm dứt khi tôi yêu cầu. Về phần pháo binh Biên Phòng Kiến-Ðức thì 500 quả đạn nổ 105 ly được chất lên xe. Hai khẩu đại bác được hai toán BÐQ đẩy bằng tay di chuyển trên hai bên bìa đường. Ðại bác trực xạ ngay sát mép rừng hướng trước mặt. Quả đạn sau nổ chỉ cách quả đạn trước hai chục thước. “Ðùng! Ðoàng!” “Ðùng! Ðoàng!” ra khỏi nòng một, hai giây là đạn nổ. Khẩu súng bên trái bắn vào rừng bên phải. Khẩu bên phải bắn vào rừng bên trái. Sở dĩ phải bắn như thế vì bắn mục tiêu ở bên lề đường đối diện dễ hơn bắn mục tiêu cùng phía với súng. Cứ thế, “Ðùng! Ðoàng!” hai họng đại bác thay nhau tiến lên, bắn liên tục. Ðàng sau lưng tôi là khẩu 81 ly của tiểu đoàn và bốn khẩu 60 ly của các đại đội. Tôi cho cối 81 ly bắn đạn thời nổ chậm (delay) trong khi cối 60 ly bắn đạn chạm nổ. Tầm bắn di động từ gần ra xa dần theo hướng tiến quân. Sau mỗi đợt pháo, tầm xa tăng lên một vòng tay quay. Tiếng cối départ “kinh kinh!” liên hồi kỳ trận, âm vang dội trong khe núi. Ðạn cối nổ “ùm! ùm!” Cây cành gãy răng rắc. Mưa đạn cối đang rơi hai bên đoạn đường ngắn ngủi hơn một cây số rừng rậm. Thêm vào đấy là tiếng đại liên, trung liên, M79, lựu đạn, và tiếng quân ta reo hò, la hét. Khói và bụi cuồn cuộn trước mặt. Biệt Ðộng Quân hàng ngang trong rừng, song song với hai khẩu đại bác ngoài đường. Những người lính miệng hô “Biệt Ðộng! Sát!” vừa bước tới, vừa bóp cò. Quân đàng trước vừa hết đạn thì dừng lại, thay băng đạn mới; quân đàng sau lên thay, tiếp tục vừa bắn vừa tiến. Thay phiên nhau bắn, đạn không ngừng nổ rền trời. Theo thế sâu đo, Biệt Ðộng Quân tiến ào ào, khí thế như nước vỡ bờ. Ðây là một trận đánh chớp nhoáng nhưng lại rất thảnh thơi, thoải mái, lớp lang. Mỗi cánh quân hai bên đường có sáu toán an ninh cạnh sườn. Sáu toán trang bị mìn Claymore và M79 bắn đạn chài, đạn nổ, làm nhiệm vụ chống bao vây chia cắt. Gặp đường mòn, triền dốc, những toán này dừng lại gài mìn bố trí chờ. Ra quân lần này tôi đã tận dụng tất cả hỏa lực có trong tay đánh phủ đầu không cho địch kịp ngóc lên thở. Khẩu 12.7 ly VC bên hướng nam con lộ chỉ bắn được vài viên là câm họng.

Ðúng như tôi đã dự đoán. Khi quân của tôi vừa chạm đỉnh dốc đầu chữ “S” nơi cái xác của Thượng sĩ Ngon đang bốc mùi, thì hai khẩu phòng không VC đặt trong khu mả của dân Thượng bên trái đường khai hỏa. Lập tức, khẩu 105 ly di động bên phải đường tương hai quả khói trắng về hướng nghĩa địa Thượng để che bớt tầm quan sát của xạ thủ địch. Hoả tập pháo binh trên mặt đường chữ “S” được chuyển xạ sang khu mả Thượng. Ðạn 105 ly nổ “Oành! Oành!” trên khu ngã ba đường xe be. Dưới khe bên trái lộ, mìn Claymore bắt đầu nổ. Ba toán BÐQ ngăn chặn lực lượng bao vây chia cắt đã phát giác địch và cho mìn nổ. Những chuyên viên của chiến thuật bao vây chia cắt CSBV đang gặp khắc tinh! Hôm nay các mũi xung kích chia cắt của VC chưa kịp phóng viên B40 nào, các xạ thủ B40 đã vỡ sọ. Tiếng rên la đau đớn, tiếng quát tháo chửi bới lẫn nhau om sòm dưới khe suối bên trái con lộ. Tiếng Bắc xen Nghệ Tĩnh. Lúc này đạn M79 của ta bắt đầu tới tấp câu xuống khe. Tôi đang chỉnh 105 ly trên trục nghi ngờ có khẩu phòng không di động của địch thì trong tần số hỏa yểm nghe có tiếng người gọi tôi từ trên trời:

-“Thái Sơn cho mục tiêu, tôi phụ một tay! Bắc Bình mới xin tôi lên làm việc với Thiếu Tá đây!”

Ngay-ta-bo-nui-(3-h2)

Bắc Bình là ông Thiếu Tá Trần văn Bường (khóa 18 Võ Bị), Tham mưu phó hành quân của Tiểu Khu Quảng-Ðức. Tiếng nói trong máy hỏa yểm là tiếng nói quen thuộc của một hoa tiêu L19 mà trong nửa năm hành quân ở đây, tôi đã nhiều lần ngồi ghế sau anh ta, bay bao vùng khu vực Nhơn-Cơ, Kiến-Ðức. Tôi và anh phi công này đã nhiều lần đánh phối hợp rất ăn khớp và tương đắc. Tôi hướng dẫn để anh phi công quan sát cái nghĩa địa Thượng nơi ngã ba đường xe be. Tôi nhờ anh triệt hạ giùm hai khẩu phòng không di động đang trụ ở điểm này. Tôi sơ lược tình hình bạn-địch cho anh ta rõ. Hướng đề nghị cho máy bay oanh tạc ra vào là Nam-Bắc, vì quân tôi tiến theo trục Tây-Ðông. Chiếc L19 đảo sát ngọn cây một vòng. Khẩu phòng không đổi góc bắn lên trời, đuổi theo đuôi chiếc L 19.

-“Ok! Tôi thấy rồi! Một cái xe bò cài lá ngụy trang có khẩu phòng không. Tôi chơi ngay!”

Một trái khói phụt xuống sát bên khu mả Thượng.

-“Ðược chưa? Thái Sơn!”

-“Ðược rồi! Cứ từ đó dài về hướng 360 độ là địch, đánh tự do!”

Sau câu trả lời “Ok! Do!” chiếc quan sát cơ bay tránh sang hướng đông. Tôi che mắt tìm những chiếc máy bay oanh tạc. Trời trong xanh. Có hai chiếc A 37 đang lượn rất cao. Hai chiếc tàu lấp lánh trong nắng. Hai chiếc tàu nhỏ tí ti. Tiếng rè rè từ A37 “Bom đi! Pass số 1! Chỉnh!” Tôi trả lời, “Nhận!” Tôi trả lời “Nhận”, nhưng tôi phải che mắt để quan sát xem bom tới từ hướng nào. Ðời tôi đã có hàng trăm lần được không quân Mỹ, Việt yểm trợ tiếp cận. Ðây là lần đầu tiên tôi thấy máy bay yểm trợ cho tôi đã thả bom ở tầm cao quá sức là cao. Có lẽ bom được thả từ trên cao độ mười ngàn bộ (feet) có dư! Mắt tôi thấy một chấm đen từ trên thăm thẳm hướng đông đang bay về phía mình. Chấm đen tới gần, nó vẫn giữ hình thù một cái chấm. Bom tới sát lắm rồi, mà vẫn chỉ là cái chấm! Thôi bỏ mẹ! Bom bay mà chỉ thấy một cái chấm, không thấy chiều dài của nó tức là nó đang nhắm vào đầu mình rồi! Tôi la thất thanh, “Nằm xuống! Nằm xuống!” Vừa xô thằng Bích xuống cái rãnh khô bên đường, tôi vừa nói với người phi công trên A37:

-“Sáng nay anh đã giết một tiểu đoàn trưởng Biệt Ðộng Quân rồi đó! Anh ơi!”

Tôi chỉ kịp nằm úp mặt trên đường nhựa thì quả bom đã chạm đất. “Ầm!” Bụi, đất, sỏi, đá, cây cối bay tung, phủ trùm một vùng. Quả bom rơi cách tôi và khẩu đại bác đi đầu chừng chục mét. Nó rơi ngay trên cạnh bắc của con đường, sát bờ suối, đàng sau một mô đất. Mô đất cao hơn đầu người và cây cối mọc trên đó đã bị sức công phá của quả bom dọn sạch ngay sau tiếng “Ầm!” vừa rồi. Chưa rõ tổn thất quân bạn ra sao, chưa rõ chính tôi có bị thương hay không, tôi quơ cái máy truyền tin, “Check Air! Check Air!” Tôi nghe anh phi công L19 đang cự nự anh phi công A 37, “Ð.M! Toa làm ăn như con c..c..!” Rồi anh hỏi tôi:

-“Sorry! Sorry! Thái Sơn có sao không?”

-“Cám ơn anh! Thôi! Cho họ về đi! Tôi không cần họ nữa!”

Tôi ném cái ống nghe của máy Không-Lục xuống đường. Ðoàn người mình mẩy đầy đất cát lồm cồm đứng dậy. Không kịp phủi bụi trên đầu tóc, họ tiếp tục chuyển đạn, nạp đạn, giựt cò. “Ðùng! Ðoàng!” Chỉ một khẩu đại bác bên trái đường còn nguyên vẹn. Khẩu súng bên phải đường bị mảnh bom đánh xẹp bánh. Một người chết vì quả bom. Binh nhì Ðức-Ðiếc bị vỡ sọ. Xác của Ðức-Ðiếc được kéo sang lề đường để tạm trên cỏ. “Ðùng! Ðoàng!” Tiếp tục! Còn một khẩu, ta chơi theo một khẩu! “Tiến lên đi! Anh em ơi! Biệt Ðộng! Sát!”, “Biệt Ðộng! Sát!”

Toán viễn thám của Hạ sĩ Mom Son và toán viễn thám của Binh nhất Lê văn Tuấn được gom lại thành một đội xung kích. Họ vượt suối, băng ngược lộ trình rút lui của ông tiểu đoàn phó ngày hôm qua. Khi tới điểm hẹn, Hạ sĩ Mom Son xin tôi ngừng tác xạ pháo binh trên khu mả Thượng. Rồi M72 nổ. Tiếp đến là M16. Sau cùng là lựu đạn. Bẵng đi một lúc, có tiếng Mom Son reo trong máy:

-“Báo cáo Thái Sơn xong rồi! Hai cây phòng không. Một trên xe bò, một trên gò mả. Tụi tui chờ Thái Sơn nơi ngã ba.”

Ðoạn giữa cái eo chữ “S” là nơi địch đắp mô. Lá cờ nửa xanh nửa đỏ, sao vàng của Mặt-Trận Giải-Phóng-Miền-Nam đã rách tả tơi nhưng còn bay phần phật bên lộ. Ðại đội 1/82 ào lên. Ðạn của ta réo như mưa bão. Từ bìa rừng bên phải đường, một tên VC có lẽ là cấp chỉ huy, nhảy ra giữa đường, tay nó giơ cao khẩu K54 bắn chỉ thiên.

Quân trường Dục Mỹ của Biệt Động Quân - photo SP5 Allan K.Holm
Quân trường Dục Mỹ của Biệt Động Quân – photo SP5 Allan K.Holm

-“Các đồng chí! Giữ vững…”

Hắn chưa hô dứt câu thì thân hình hắn đã gập xuống; khẩu K54 rơi trên mặt đường; đạn ghim kín người hắn. Từ ven rừng phía nam con lộ, nhiều cán binh VC phóng nhanh qua đường tìm cách nhào xuống suối. Súng cứ nổ ròn rã, hiệu lệnh của cuộc hành quân hôm nay là “Giết!” Bất cứ cái gì nhúc nhích trước mặt đều là mục tiêu. “Giết!” Hôm nay chúng tôi xuất quân với tất cả lòng căm thù. Chúng tôi đã tiến tới cuối đoạn cua chữ “S” hướng đông. Ðại đội của Tiểu đoàn 63 BÐQ trấn giữ ngọn đồi trên tỉnh lộ gần con suối Nhơn-Cơ thấy hỏa lực của chúng tôi kinh khủng quá, họ sợ chúng tôi ngộ nhận bắn càn nên họ bỏ vị trí rút về bên kia suối.

Tiếng súng tạm yên thì hai cánh quân hai bên đường được lệnh bung sâu vào rừng kiểm soát an ninh hai hông phải và trái chiến địa. Tổng kết, quân bạn có bốn chết, ba bị thương nhẹ. Chúng tôi hoàn tất cuộc nhổ chốt trong vòng chưa đầy hai giờ đồng hồ. Con số địch bị giết vào khoảng trên dưới một trăm. Vũ khí chúng tôi tịch thu được hôm đó có lẽ nhiều hơn số địch bị giết. Sự hứa hẹn khen thưởng vì chiến công không hấp dẫn chúng tôi trong lúc này. Tôi vào quận đường Nhơn-Cơ và chỉ gặp Thiếu tá Khánh, Quận trưởng. Vừa nghe tôi báo cáo khai thông xong con đường, liên đoàn đã cho Tiểu đoàn 81 BÐQ của Thiếu tá Mẫn rút về Gia-Nghĩa. Trung tá Liên đoàn trưởng cho lệnh tôi vào đồn đóng quân chung với Ðịa Phương Quân của Thiếu tá Khánh và đặt ông Khánh dưới sự chỉ huy của tôi. Tôi không chịu đóng quân trong quận lỵ. Tôi tin chắc rằng, sau khi hai bãi mìn ở Kiến-Ðức rơi vào tay Cộng Quân thì chỉ cần hai chiếc T54 là địch đủ sức san bằng cái đồn Nhơn-Cơ tí teo. Ðồn Nhơn-Cơ chỉ có một cổng ra vào hướng tỉnh lộ từ Kiến-Ðức về. Sau lưng đồn, sát hàng rào là một cái đập nước rộng và sâu. Chui vào đồn là chui vào rọ.

Ðại úy Hoàn, Tiểu đoàn phó được lệnh gom quân đang giữ Kiến-Ðức, cuốn chiếu qua mặt tôi rồi lui về đàng sau quận Nhơn-Cơ. Tôi giao cho ông Hoàn nhiệm vụ đốt cái đồi Kiến-Ðức trước lúc rút đi. Chuẩn úy Bảo, một sĩ quan Trung đội trưởng của Ðại đội 4/82 là người sau cùng rời Kiến-Ðức. Những quả mìn cơ động do Bảo gài lại nơi điếm canh hướng đông của căn cứ là những cái bẫy sau cùng chào đón những cán binh trung đoàn 271/ Công trường T10 CSBV khi họ vào tiếp thu đồi Kiến-Ðức. Ðại đội tăng phái của Tiểu Ðoàn 63/BÐQ đã theo tôi từ trước Tết Âm Lịch, giờ này được tôi trả lại Gia-Nghĩa cho Thiếu tá Trần Ðình Ðàng. Khẩu 105 ly bị bể bánh đã được phục hồi. Cả bốn khẩu pháo binh biên phòng đều được kéo về nơi dự trù đóng quân của ông Tiểu đoàn phó cùng Ðại đội 2/82 và Ðại đội 4/82, trên khu chứa gỗ trước xưởng cưa Nhơn-Cơ cách tôi chừng hai cây số về hướng Gia-Nghĩa. Trưa 21 tháng Ba tôi bố trí bộ chỉ huy tiểu đoàn và hai đại đội 1/82 và 3/82 ngay ngã ba đường xe be, nơi đầu khúc cua hướng đông của đoạn đường chữ “S”. Chiều hôm ấy, cách Kiến-Ðức hơn bốn cây số, tôi nghe tiếng đạn cháy nổ ùm ùm, lép bép vọng về. Ngọn khói đen bốc lên cao dần. Tôi đứng bên con đường nhựa, cạnh những ngôi mộ mới. Chúng tôi đã chôn Thượng sĩ Y Ngon Near, Binh nhì Ðức-Ðiếc, ba anh BÐQ mới chết sáng nay và gần chục anh BÐQ chết hôm qua bên lề tỉnh lộ này. Lù lù giữa tỉnh lộ là một đống vũ khí chiến lợi phẩm tịch thu được của địch. Bên đường là một rờ-mọoc (remorque) súng dư dùng của ta. Một núi súng ta, súng địch, gom lại, chỉ cần hai quả lựu đạn lân tinh là cháy tiêu hết! Sương chiều dâng, rừng núi mờ dần, lòng tôi tê dại, dửng dưng…

Sáng sớm 23/3/75, tiền đồn hướng tây báo cáo có tiếng hô “xung phong” trên đồi Kiến Ðức. Pháo binh đã chuẩn bị yếu tố. Hai chục tràng đạn đi để chào mừng những người chủ mới đến tiếp thu ngọn đồi này. Tiếp đó là một tiếng “Ùm!” từ hướng tây vọng lại. Như vậy là bãi mìn chống tank đã nổ! Không rõ tank địch đã vô ý cán lên bãi mìn, hay bangalore của công binh CSBV đã phá hủy nó? Và cũng từ ngày này tôi bận tâm suy nghĩ phải làm gì để đương đầu với xe tank địch trong những ngày sắp tới?

Sau trận chiến
Sau trận chiến

Ngày 25/3/75, khoảng 9 giờ sáng tôi vào quận để thăm ông Thiếu tá Khánh. Tôi không gặp được ông Khánh. Từ mấy ngày trước, Thiếu tá Khánh đã ra Gia Nghĩa và ở lại ngoài đó không về. Tôi đi ngang hầm truyền tin thì nghe tiếng loa khuếch âm oang oang. Thiếu tá Khánh ra lệnh cho lực lượng đồn trú:

-“Các anh chuẩn bị bỏ đồn, rút về Tiểu khu. Nhớ vặn nhỏ volume kẻo ông Thiếu tá Biệt Ðộng Quân nghe được thì rầy rà!”

Người Chuẩn úy trực chi khu thấy tôi đứng trước hầm, anh ta luống cuống phân bua:

-“Trình Thiếu tá, không phải lỗi em!” Tôi xua tay,

-“Ðừng ngại! Cứ thi hành lệnh đi! Tôi sẽ gặp sếp của anh!”

Tới hầm súng cối, tôi tần ngần nhìn khẩu cối 4 chấm 2 (cối 4.2 tức cối 106 ly), đạn còn nhiều quá! Tôi gọi chiếc GMC của tiểu đoàn vào chở khẩu súng này lên cho ông Ðại úy Hoàn. Thượng sĩ Năng là chuyên viên bắn 106 ly của tôi, khi chúng tôi còn ở Plei-Me. Thượng sĩ Năng chắc phải vui lắm khi nhận được khẩu cối này. Trước khi Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Nhơn-Cơ ra khỏi đồn, tôi nghe trong máy, tiếng Thiếu tá Trần Văn Bường ra lệnh cho sĩ quan pháo binh Diện-Ðịa đồn Nhơn-Cơ phá hủy những khẩu đại bác 105 ly. Tôi đứng quan sát những pháo thủ Nhơn-Cơ bắn cả ngàn quả đạn về hướng Kiến-Ðức, trong đó có những viên đạn phostphore. Sau cùng, họ đã thả từng quả lựu đạn màu đỏ, hủy từng khẩu pháo. Tôi nhìn cách phá súng của họ và học lóm được cách tháo ống thủy điều cho chất nước đỏ chảy ra, nòng súng thụt xuống không sử dụng được. Tới trưa hôm đó thì quận đường Nhơn–Cơ trống trơn.

Tôi cho lệnh đốt quận đường rồi giựt mìn phá hủy cái cống bắc ngang suối Nhơn-Cơ. Sau đó tôi cho quân rút lên đỉnh dốc giữa đường Nhơn-Cơ, Gia-Nghĩa. Nửa tiểu đoàn quây quanh khu vườn rộng sau cái miếu Thổ Ðịa nơi đầu dốc. Bốn khẩu 105 ly Biên Phòng hướng về phía tây sẵn sàng đạn chống tank. Tôi lái xe ngược chiều về xưởng cưa thăm vị trí của ông Hoàn. Có tiếng động cơ xe từ hướng Kiến-Ðức vọng về. Tôi quyết định cho cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó rút qua mặt tiểu đoàn và ngủ đêm bên bờ con sông hướng bắc trục lộ, cách tôi độ nửa cây số. Tôi xuống xe đi bộ cùng với ông Hoàn. Khi đi ngang xóm nhà của khu dinh điền Nhơn-Cơ, nơi TÐ 81 BÐQ và địch đã giao chiến suốt đêm 18 và sáng 19 tháng Ba, chúng tôi nghe mấy người lính đi bên trái báo có thương binh bạn nằm bên lề đường. Một Biệt Ðộng Quân mang phù hiệu TÐ 81 BÐQ nằm trên bờ cỏ sát suối. Ruột gan anh đổ trên mặt cát. Ðầu mặt, tay chân anh máu đã khô. Kiến lửa và ruồi nhặng lúc nhúc bu trên người anh. Người chiến sĩ BÐQ chỉ còn thoi thóp nhẹ. Tôi lần tay vào cò khẩu súng Colt. Tôi nghĩ tới viên đạn giải thoát cho bạn mình. Tay tôi run run. Tôi không đủ can đảm làm việc này! Tôi chợt nghĩ, anh chiến sĩ đã hôn mê; chắc anh ta không còn biết đau đớn là gì nữa cả. Chắc anh không cần đến viên đạn giải thoát của tôi. Tôi và Ðại úy Hoàn lấy một cái poncho phủ lên người anh. Hai chúng tôi đứng nghiêm chào vĩnh biệt người bạn trẻ cùng binh chủng. Cách chỗ anh BÐQ nằm chừng năm chục mét trên dốc là hai cái xác Việt-Cộng đã sình. Hai cái xác trương to như hai con bò, áo quần căng cứng. Nắng hầm hập. Một vùng ngập chìm trong tử khí.

Trưa 25/3/75, khói đen bốc lên hướng thị xã Gia-Nghĩa. Trung tá Liên đoàn trưởng báo cho tôi biết tin Tiểu khu Quảng Ðức đang bắt đầu rút về BLao. Bộ chỉ huy liên đoàn và hai tiểu đoàn 63 & 81 BÐQ đang án binh chờ tôi về rồi mới tính sau. Tôi lên xe chạy về Gia-Nghĩa. Gặp lại Trung tá Thanh, tôi cùng ông duyệt lại tình hình Quảng-Ðức. Chúng tôi thấy những ngày trước đó, quân ta chưa có gì sứt mẻ. Tinh thần còn vững vàng. Tiếp liệu còn đầy kho. Chỉ có Kiến-Ðức là nóng bỏng. Chúng tôi còn đứng vững, chưa cần tới tiếp viện. Tôi không hiểu vì sao ông tỉnh trưởng bắt chúng tôi lui binh từ từ, bỏ hết điểm này tới điểm nọ. Bây giờ ông ta lại bỏ cả tỉnh lỵ khi địch chưa tỏ ý định đánh chiếm nó. Kho tàng đã bị đốt hết. Chúng tôi có tử thủ cũng chỉ vài ngày là hết đạn, hết cơm. Chúng tôi không rút cũng không được. Tôi vội kêu Trung úy Ðăng giao Ðại đội 2/82 lại cho Chuẩn úy Gấm rồi lên gặp tôi. Tôi dặn dò anh dùng xe GMC đi theo bộ chỉ huy tiểu khu. Tới BLao, anh chuẩn bị lương thực tiếp tế sẵn cho đơn vị. Ra khỏi liên đoàn, tôi ghé chợ Gia-Nghĩa. Chợ quán thưa vắng. Tôi vào khu bán chạp phô. Tôi mua hai ký tép khô. Giá ba trăm đồng một ký. Tôi đưa cho chị bán hàng tờ giấy một nghìn, không nhận tiền thối lại.

-“Sao bà con còn nấn ná ở đây? Người ta đi hết rồi!”

-“Biết đi đâu bây giờ Thiếu tá ơi! Con thì nhỏ, đường thì xa. Em sợ tên bay đạn lạc. Thôi ở lại đây có chết cũng đành!” Chị bán tép sụt sịt.

Tôi buồn bã nói với bà con đôi lời từ giã. Lúc đó có tiếng ồn ào nơi khu phố đối diện. Cửa hàng bên phải có tiếng khóc than. Cửa hàng bên trái có bóng đi ra đi vô của một bộ quần áo rằn ri. Tôi hỏi chị bán tép chuyện gì huyên náo, chị nói:

“Cướp, có hai anh lính Biệt Ðộng Quân ăn cướp! Họ ném lựu đạn vào tiệm bên phải, cướp vàng. Họ đang tra khảo chủ tiệm bên trái.”

Tôi ra xe phất tay cho Trung sĩ Nguyễn Chi và Hạ sĩ Mom Son sẵn sàng. Hai người này và anh tài xế đã rõ câu chuyện ăn cướp. Họ thủ thế chờ lệnh. Tôi đứng trước đầu xe hét to:

“Ê! Hai anh kia đi ra không tôi bắn!”

Một tên tóc tai dài lượt thượt ló đầu ra cửa. Hắn giơ tay lên nhứ nhứ quả M26. Tôi ra lệnh: “Bắn!” Hai viên M16 trúng sọ thằng ăn cướp. Nó nằm giãy tê tê trước bục cửa ra vào. Quả lựu đạn chưa mở chốt văng trước thềm. Thằng thứ nhì cũng mặc quân phục Biệt Ðộng Quân từ trong nhà chạy ra, trên tay cũng có hai trái M26. Tôi hét lớn:

-“Ném hai quả lựu đạn ra sau nhà!”

Tên cướp ném hai trái M26 ra sân cỏ sau nhà. Chỉ một trái đã bị rút chốt an toàn. Một tiếng “ùm!” làm bay tấm tôle trên mái sau. Tôi ra lệnh tiếp:

-“Nằm úp mặt xuống đất, hai tay dang ra!”

Hắn riu ríu làm theo lệnh.

-“Còn ai trong nhà nữa không? Ra hết đi!”

Một cặp vợ chồng già run lập cập nắm áo nhau chạy ra ngoài lộ. Ba thày trò tôi tiến lên chỗ tên cướp đang run như cầy sấy.

-“Mày ở đơn vị nào?”

-“Dạ em là lao công của Sư đoàn 23 Bộ Binh chạy lạc về đây!”

-“Quần áo Biệt Ðộng Quân tụi mày lấy ở đâu ra?” Tôi hỏi vặn.

-“Dạ nhiều lắm! Trong tiệm giặt ủi đàng kia!”

Tôi co chân đá vào mặt thằng ăn cướp một cái. Miệng nó phun máu. Tôi ra hiệu cho chú Chi lục túi nó và túi thằng đã chết, gom tang vật lại rồi gọi nạn nhân ra trao cho họ. Gia chủ căn nhà bên phải chạy ra nhận lại số vàng. Họ vừa khóc vừa cám ơn. Tôi đá liên tiếp vào mặt thằng ăn cướp mấy cái nữa, nó ôm mặt lăn lộn trên mặt đường khóc lóc xin tha mạng. Tôi quát, “Cút đi!” Nó lồm cồm bò dậy, chạy một mạch xuống triền đồi khuất dạng. Tôi phân trần với dân phố đang bu quanh.

-“Tụi này là lính giả. Chúng nó là quân phạm chứ không phải Biệt Ðộng Quân. Biệt Ðộng Quân không có những hạng người đốn mạt như tụi này!”

Nói xong câu đó, tôi nghĩ tới ngày mai, chúng tôi không còn hiện diện ở nơi đây nữa. Ai sẽ thanh minh cho chúng tôi những sự mạo nhận như thế? Tôi buồn bã lên xe hướng về bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Ðức. Tòa hành chánh bị đốt hư hại nhẹ. Khói từ các cửa sổ loang lổ tường vôi. Khu Trung-TâmYểm-Trợ Tiếp-Vận chỉ có kho xăng đã cháy, vài căn nhà chứa lương thực và đạn dược bị đốt lam nham. Những chỗ khác vẫn còn nguyên vẹn. Trên mặt đất, quân trang, quân dụng, lương thực vương vãi khắp nơi. Tôi quay xe xuống đồi. Tôi hẹn với Trung tá Liên đoàn trưởng, sáng mai tôi sẽ rút quân thẳng về bờ sông Kinh-Ðà chờ bộ chỉ huy và hai tiểu đoàn. Ðiểm vượt sông tôi sẽ định sau.

Vương Mộng Long

(còn tiếp)