Menu Close

Chuyện tình vượt lao tù và cái chết

Trong kho tình sử của nhân loại có những mối tình thật đẹp, thật lý tưởng. Vâng. Chúng ta từng xúc động và yêu thích chuyện tình Tiêu Nhiên & Mỵ Cơ, Romeo & Juliet, Phạm Thái & Trương Quỳnh Như, Modigliani & Jeanne, Yuri & Lara…  Những tưởng trong xã hội hỗn mang, chạy theo tư lợi như ngày nay sẽ không còn những chuyện tình đẹp và lý tưởng nữa. Thế nhưng vẫn còn đó những chuyện tình diễm lệ và bi thương. Như chuyện tình của Lưu Hiểu Ba và Lưu Hà. Một chuyện tình đã vượt qua lao tù và cái chết. 

Một lần, phóng viên BBC Celia Hatton nhìn lại tình yêu của ông Lưu Hiểu Ba, nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc, khôi nguyên Nobel Hòa bình, người vừa qua đời ở tuổi 61 vì ung thư gan.

Hai nhân vật chính, Lưu Hiểu Ba và Lưu Hà đã phải tranh đấu mới được kết hôn với nhau. Nhưng ngay cả khi chính quyền Bắc Kinh cho họ kết hôn, vẫn còn những vấn đề.

Chiếc máy ảnh được dự định chụp ảnh cưới cho cặp đôi bỗng nhiên không hoạt động. Giấy chứng nhận kết hôn tại Trung Quốc sẽ không được đóng dấu trừ khi có dán ảnh cô dâu chú rể.

Vì vậy, ông Lưu Hiểu Ba và bà Lưu Hà đối phó bằng cách ghép ảnh chụp của mỗi người. Chuyện xảy ra năm 1996.

Kết hôn là chiến thắng nhỏ cho họ. Nhờ vậy mà bà Lưu Hà có quyền đến thăm chồng mới cưới bị cầm giữ tại trại cải tạo lao động ở miền đông bắc Trung Quốc.

Mỗi tháng, bà phải vượt quãng đường đi về 1,600 km từ Bắc Kinh để thăm chồng. Bao nhiêu gian nan vậy mà chỉ được gặp nhau trong khoảnh khắc.

Lưu Hà viết trong một bài thơ:

“Trên chuyến tàu đến trại tập trung

Em thổn thức

Nhưng vẫn không thể nắm lấy tay anh.”

Báo chí loan tin: Tiệc cưới của hai người diễn ra ở canteen của trại cải tạo. Họ chỉ được sống cùng nhau trong những khoảng thời gian ngắt quãng, khi ông Lưu ra tù vào khám. Và dù bị chính quyền liên tục gây trở ngại, tình cảm của ông bà Lưu vẫn không bị chia cắt.

Hai nhân vật của chuyện tình như hai dòng sông cuối cùng đã hòa chung lại.

Lưu Hiểu Ba, như mọi người đều biết, từng là tác giả và giáo sư đại học được yêu thích, thường được mời đi nói chuyện và nghiên cứu ở nước ngoài. Rồi bỗng nhiên vào mùa xuân năm 1989, Lưu Hiểu Ba đang ở New York khi nghe tin các cuộc biểu tình vì dân chủ đang diễn ra tại Quảng trường Thiên An Môn. Ông ngay lập tức trở về Trung Quốc. Ông từng giúp thương thuyết với các binh lính Trung Quốc để nhiều sinh viên được rời khỏi Quảng trường an toàn.

Cho tới nay vẫn chưa rõ bao nhiêu người đã bị lực lượng chính phủ giết hại vào Tháng Sáu năm 1989, nhưng hầu hết đều đồng ý là con số tử vong có thể đã cao hơn nhiều nếu không có ông Lưu Hiểu Ba.

Tất nhiên điều vừa nói chẳng làm thay đổi gì đối với chính phủ Trung Quốc. Sau sự kiện Thiên An Môn, Lưu Hiểu Ba bị giữ tại một trại giam giữ bí mật. Ông bị lưu tại đây gần 20 tháng. Khi được thả, ông hầu như trắng tay, mất hết mọi thứ kể cả công việc dạy học danh giá và nhà cửa.

Tháng 6.2009 Lưu bị kết án 11 năm tù vì tội “xúi giục chống phá nhà nước” và được đưa về nhà tù Cẩm Châu, tỉnh Liêu Ninh.

Ngày 8.10.2010, Ủy ban Nobel của Na Uy thông báo Giải Nobel Hòa bình 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba – nhà văn và nhà bất đồng chính kiến người Trung Hoa đang bị giam giữ “vì cuộc đấu tranh lâu dài và bất bạo động của ông cho các quyền con người cơ bản ở Trung Hoa”. Thi sĩ Lưu Hà (Liu Xia) vợ ông, được phép đến nhà tù thăm chồng và báo tin ông đã đoạt giải Nobel. Trở về Bắc kinh, Lưu Hà cho biết Lưu Hiểu Ba muốn cống hiến giải này cho các nạn nhân trong vụ thảm sát Thiên An Môn. Từ sau lời tuyên bố đó đến nay, chính quyền Trung cộng vốn lên án mạnh mẽ giải thưởng dành cho Lưu Hiểu Ba – đã áp dụng chế độ quản thúc tại gia với Lưu Hà và tìm cách ngăn cản bà hay bất cứ họ hàng, bạn bè nào của ông Lưu rời Trung Cộng để dự lễ trao giải ở Oslo, Na Uy.

Với Lưu Hiểu Ba, Lưu Hà là ánh sáng của đời ông. “Tôi tìm thấy mọi vẻ đẹp thế giới ở người phụ nữ này,” ông đã nói như vậy với một người bạn.

Trẻ hơn ông sáu tuổi, Hà được xem là một nhà thơ có tài. Bạn thân của hai người, nhà văn Lưu Tích Vũ, cho biết khi sống với nhau Lưu Hà luôn cười khúc khích. Nét mặt của Hà rạng rỡ trong ánh sáng hạnh phúc.

Ðiều đáng ghi nhận: Lưu Hà sinh ra trong một gia đình danh giá. Bà là con gái của một viên chức ngân hàng cao cấp. Hà có hy vọng sẽ trở thành cán bộ nhà nước nhưng đã từ bỏ cuộc sống ổn định đó để trở thành nhà thơ và kết hợp với Lưu Hiểu Ba..

Mặc những khó khăn, cha mẹ bà Lưu Hà ủng hộ mối tình của bà với ông Lưu Hiểu Ba bất chấp những rắc rối chính trị mà ông phải chịu.

Trong thời gian đầu, họ cố gắng tạo cho mình một cuộc sống như những người bình thường khác. Ông Lưu chuyển tới căn nhà của Hà không xa Quảng trường Thiên An Môn và họ bắt đầu cuộc sống chung nhưng thường xuyên bị lực lượng an ninh theo dõi, giám sát, và gây áp lực.

‘Em không bao giờ có một ngày bình yên kể từ khi em đến với anh.’ Ðiều này không có nghĩa là Lưu Hà muốn rời bỏ Lưu Hiểu Ba mà chỉ muốn nhấn mạnh là tình yêu của họ đã trải qua những khó khăn như thế nào và nó đã tồn tại.”

Cho tới ngày… Cho tới ngày… Lưu Hiểu Ba nằm xuống vì bệnh ung thư, thân xác biến thành tro. Ta thấy Lưu Hà  đứng lặng chung quanh là những bông cúc trắng tiễn đưa. Hà nhìn theo những gợn tro trôi trên biển. Mãi mãi hình ảnh đó vẫn còn. Mãi mãi…

TN

Sau đây là một bài thơ Lưu Hiểu Ba viết cho Lưu Hà nhân ngày kỷ niệm 17 năm sự biến Thiên An Môn

 

Huệ Trắng Ðêm Ðen 4 Tháng 6

 

17 năm đã qua

một lần nữa 4 tháng 6 sắp đến,

một lần nữa đêm đen ghê rợn đến

 

Một đời người

còn non còn đầy nhựa sống

trong khoảnh khắc thành lá khô

đong đưa trong ánh nắng bình minh

 

Tôi cám ơn Lưu Hà vợ tôi

mang về nhà bó hoa huệ trắng

mỗi năm ngày mùng 4 tháng 6

17 cành hoa nàng mang về năm nay

 

Huệ trắng đêm đen

khâu kín đồng hoang của vong linh

Màu trắng hoa rực sáng

cánh hoa nở rực sáng

lá xanh thẳng rực sáng

mùi hoa thoảng rực sáng

lễ cúng hồn lễ sám hối

 

Mắt không thể nhắm trong cái chết

ánh sáng tinh anh duy nhất

đâm thủng màn u linh đất nước

 

Huệ trắng giam kín bởi bóng tối

là ánh sáng vong linh

Mở tung hồn tôi

cho thấy các bà mẹ

cho thấy công viên Victoria

cho thấy mỗi góc trên thế gian

bừng sáng những ngọn nến cho vong linh

 

Khi ngày mất đi sự tự do

huệ trắng ngập chìm trong đêm tối

là đối thoại giữa thời gian và người chết

tinh túy ánh lửa nguyện cầu thắp cho vong linh

đăm đăm cháy bùng tỏa sáng tận cùng hư không tôi đối diện

 

Những gương mặt chai lì

cát bụi dìm trầm lời ca những đôi mắt

mở bừng thêm một lần

Ðể đối diện điều tước đoạt dã man

đòi hỏi sự cương quyết bền gan

ánh sáng bất di dịch

tưởng chừng cõi mông quạnh

nở bừng rừng hoa quỳ vàng

Van Gogh điên loạn

Van Gogh gieo mặt trời

Van Gogh tai bay lắng nghe màu

Van Gogh bền gan với thiên đàng địa ngục

 

Sự thức tỉnh đắng ngắt

thấm qua giờ tuyệt vọng

đong đưa trong đêm tối

huệ trắng nở nhạt nhòe

hoa rơi mùa xuân câm

nâng tôi ra khỏi vực sâu

LƯU HIỂU BA – Van Gogh và Em

ÐINH TỪ BÍCH THÚY chuyển ngữ – Nguồn: Da Màu