Lời Giới Thiệu: Lịch sử luôn thiêng liêng với mỗi dân tộc và là chất keo gắn kết dân tộc lại với nhau. Do đó hiểu biết lịch sử của đất nước mình đang sinh sống và trở thành công dân là điều không thể thiếu sót trong việc thi quốc tịch mà chúng ta đã trải qua. Nhân Lễ Độc Lập Ngày 4 Tháng 7 Trẻ xin gửi đến quý độc giả bài viết ghi lại trận đánh lịch sử mở màn cho chiến thắng của người dân Mỹ dẫn đến việc thực dân Anh trao trả độc lập cho Hoa Kỳ. Độc lập và tự do luôn đòi hỏi cái giá xương máu, và để giữ được 2 điều thiêng liêng trên cũng đòi hỏi máu xương mà người dân yêu nước hiện nay phải trả trước sự đàn áp của nhà cầm quyền CS.

(tiếp theo và hết)
Không được tăng viện, Ðại úy Laurie ra lệnh cho binh sĩ Anh dưới quyền dàn đội hình quả trám, đỉnh đi trước, nghinh chiến. Ðây là một quyết định sai lầm không thích hợp với trận địa trống trải. Trung úy Sutherland trong toán quân bọc hậu nhận thấy điều đó nên ra lệnh bảo vệ cạnh sườn, nhưng vì ông là một sĩ quan thuộc một đơn vị khác, chỉ có ba binh sĩ vâng lệnh; phần còn lại ngơ ngác không biết nghe theo lệnh ai.
Một phát súng nổ vang lên. Có thể đó chỉ là phát súng chỉ thiên cảnh cáo do một binh sĩ Anh mệt mỏi bắn bừa. Hai binh sĩ Anh khác tức khắc bắn theo, và toán nhỏ đi trước cũng bắn theo vì nhầm tưởng lệnh khai hỏa đã được ban ra. Ðại úy Laurie hét to lệnh ngưng bắn. Nhưng hai quân nhân Mỹ thuộc đơn vị xung kích đi đầu là Ðại úy Isaac Davis và binh nhì Abner Hosmer trúng đạn ngã gục, bốn người khác bị thương. Thiếu tá Buttrick của quân Mỹ ra lệnh,”Anh em! Bắn!” Lúc bấy giờ, khoảng cách giữa hai phe chỉ là con sông Concord và cây cầu Bắc 46 thước. Bốn trong số tám sĩ quan và hạ sĩ quan Anh trúng đạn bị thương trên cầu (ngày xưa cấp chỉ huy luôn dẫn đầu khi đụng trận). Do thiếu kinh nghiệm trận mạc, quân Anh thấy quân Mỹ đông quá nên hoảng sợ bỏ chạy, mặc cho những người bị thương còn nằm lại trên cầu.
Thế là trận đánh đầu tiên của Cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ đã mở màn. Quân Cách Mạng Mỹ cũng không khỏi lấy làm kinh ngạc trước chiến thắng dễ dàng. Ðại tá Barrett mang các đơn vị dân quân trở lại đồi; còn Thiếu tá Buttrick dẫn các đơn vị xung kích vượt cầu tới một vị trí phòng thủ là một ngọn đồi có bức tường đá che chắn.
Trung tá Smith từ vị trí trong thị trấn nhận được tin xin tăng viện của Ðại úy Laurie đồng thời cũng nghe tiếng súng giao tranh nên đích thân dẫn hai đại đội vũ khí nặng (grenadiers) đến cầu Bắc. Trên đường ông thấy đám lính bộ binh của Ðại úy Laurie lếch thếch chạy về. Ðến khi thấy các đơn vị xung kích của Mỹ bên sau bức tường đá, ông ra lịnh hai đại đội của ông dừng chờ. Toán quân Anh đi lục soát nông trại của Barrett cách đó vài cây số làm xong nhiệm vụ cũng trở về. Trung tá Smith gom quân lại, thay vì ra lịnh tấn công, ông chấm dứt cuộc hành quân trong tổn thất và triệt thoái về Boston.
Trên đường rút lui sau đó, đoàn quân của ông còn bị chận đánh nhiều bận nữa. Quân Anh tổn thất nặng hơn với 73 người chết, 174 người bị thương và 26 người mất tích. Phe Cách Mạng Mỹ có 49 người thiệt mạng, 39 người bị thương và năm người mất tích.
Và như nước vỡ bờ, nức lòng với chiến thắng ban đầu, sau đó quân cách mạng từ nhiều nơi kéo về Boston ngày càng đông, có tài liệu nói con số lên đến 15,000 người và được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng George Washington (1732-1799), là người sau đó đã trở thành vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ.
Lực lượng quân Mỹ đông đảo bắt đầu vây hãm thành phố Boston. Ngày 17 tháng Ba 1776, quân Anh trú phòng bỏ chạy bằng đường biển qua Halifax Nova Scotia Canada, thuộc địa trung thành của Vương quốc Anh.
Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, sự oán ghét đế quốc Anh cùng với khát vọng độc lập của người dân thuộc địa trở thành một cao trào khi tập sách mỏng tựa “Common Sense” do Thomas Paine xuất bản tung ra khích động thêm tinh thần.
Ngày 7 tháng 6, Ðại Hội Lục Ðịa diễn ra ở thành phố Philadelphia, tại nhà hội chính phủ tiểu bang Pennsylvania. Ðại biểu của tiểu bang Virginia là Richard Henry Lee đã đề xướng một cuộc vận động kêu gọi sự độc lập của các thuộc địa.
Giữa chừng cuộc tranh luận sôi nổi, Ðại Hội hoãn bỏ phiếu về cuộc vận động của Lee, xong chỉ định một ủy ban gồm 5 người gồm Thomas Jefferson của Virginia, John Adams của Massachusetts, Roger Sherman của Connecticut, Benjamin Franklin của Pennsylvania và Robert R. Livingston của New York để dự thảo một bản tuyên ngôn chính thức cho sự tách ra khỏi sự thống trị của Vương quốc Anh. Thomas Jefferson là nhân vật chính soạn thảo phần lớn bản tuyên ngôn.
Ngày 4 tháng Bảy 1776, Bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập ra đời khai sinh quốc gia Hoa Kỳ, nhưng cuộc chiến đấu giành độc lập gay go kéo dài hơn 7 năm sau mới chính thức chấm dứt ngày 3 tháng 9 năm 1783 bởi Hòa Ước Versailles ký tại Paris.

Lá quốc kỳ đầu tiên (chỉ gồm có 13 ngôi sao tượng trưng cho 13 tiểu bang) thường được gọi là “Betsy Ross flag” vì được cho là do một phụ nữ trẻ tên Betsy Ross vẽ kiểu và may theo lời yêu cầu của tướng Washington vốn có quen biết với chồng bà. Quốc kỳ Mỹ đã trải qua 27 lần thay đổi với cách sắp xếp mới cho cân đối mỗi khi một ngôi sao được thêm vào; lần cuối cùng là vào năm 1960.
Trận đánh ở Concord tuy ngắn ngủi nhưng là sự đánh dấu quan trọng nên được người Mỹ hãnh diện tưởng nhớ như là một huyền thoại của lòng ái quốc kiêu hùng. Tháng Tư 1975, Tổng thống Gerald Ford đã đến thành phố Concord tiểu bang Massachusetts để làm lễ tưởng niệm hai trăm năm cột mốc lịch sử này.
Trong bài diễn văn đọc tại buổi lễ tuyên thệ nhậm chức trưa ngày 20 tháng 1 năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã nhắc tới Concord qua đoạn văn “For us, they fought and died, in places like Concord and Gettysburg; Normandy and Khe Sanh.” (Vì chúng ta, họ đã chiến đấu và hy sinh ở những nơi như Concord và Gettysburg; Normandy và Khe Sanh).
Bốn địa danh được nhắc tên để ngợi ca những truyền thống cao đẹp của Hoa Kỳ là đứng lên chống lại chủ nghĩa thực dân bóc lột để giành độc lập ở Concord; tranh đấu giải phóng nô lệ và thống nhất đất nước ở Gettysburg dù phải trả giá quá cao về sinh mạng của một quốc gia còn non trẻ; vươn tay đóng góp và cứu vớt cộng đồng thế giới khỏi ách thống trị của chủ nghĩa Phát-xít ở Normandy; và sau cùng là tranh đấu bảo vệ thành trì của thế giới tự do ở Khe Sanh trước hiểm họa bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.
Năm 1836, thi sĩ Ralph Waldo Emerson (1803 – 1882), một con dân địa phương của Concord, sáng tác bài thơ Concord Hymn mà bốn câu đầu được khắc trên bệ tượng đài tưởng niệm ở Concord. Bài thơ này lần đầu tiên được phân phát dưới dạng tờ rơi ngày 4 tháng 7 năm 1837 nhân dịp lễ khánh thành đài kỷ niệm trận đánh Concord. Tuy nhiên, vì bệ tượng đài được xây vào cuối năm 1836 và đề năm đó, một số phiên bản in của bài thơ cũng để năm 1836. Mười năm sau, bài thơ này mới được đưa vào trong tập thơ của Ralph Waldo Emerson. Tựa đề ban đầu của bài thơ được thay là “Concord Hymn” và được chấp nhận rộng rãi.
CA
(viết cho Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ 4 Tháng 7, 2018 dựa theo nhiều nguồn tài liệu).
Concord Hymn
By the rude bridge that arched the flood,
Their flag to April’s breeze unfurled,
Here once the embattled farmers stood,
And fired the shot heard round the world.
The foe long since in silence slept;
Alike the conqueror silent sleeps;
And Time the ruined bridge has swept
Down the dim stream that seaward creeps.
On this green bank, by this soft stream,
We set today a votive stone;
That memory may their deeds redeem,
When, like our sires, our sons are gone.
Spirit, that made those heroes dare,
To die, and leave their children free,
Bid Time and nature gently spare
The shaft we raise to them and thee.
Ralph Waldo Emerson
Bài Ngợi Ca Concord
Bên cầu thô sơ bắc qua dòng nước
Gió Tháng Tư không đủ phất cờ bay
Dân làng ta từng chiến đấu nơi đây
Bắn phát súng vang rền quanh thế giới.
Kẻ thù đã từ lâu yên lặng ngủ
Giống như người thắng trận cũng nằm yên
Qua thời gian cầu gãy đã cuốn trôi
Xuống suối mờ trườn mình ra biển cả.
Cạnh dòng suối êm bên xanh bờ cỏ
Nay chúng ta đặt viên đá cúng dâng
Kỷ niệm đó đáp đền công trận họ
Nối cha ông hậu sinh ta góp phần.
Những anh hùng với tinh thần bất khuất
Dám hy sinh cho con cháu tự do
Xin thời gian tạo hóa dịu dàng cho
Ðài ta dựng vì người luôn đứng vững. (CA)