Menu Close

Nốt thăng trầm (kỳ 2)

not-thang-tram1
Biệt Động Quân VNCH. nguồn: Wikiwand

Kỳ 2

Một trái cối rớt ngay giữa sân, xé một miếng lều của đài tác xạ. Qua lỗ rách, ánh đèn chiếu ra lấp lóe. Tôi sực nhớ, “Súng phản pháo ở ngay đây! Xin đâu cho xa?”

Tôi cầm cái bản đồ, chạy ào vào lều tác xạ. Căn lều sáng choang dưới ánh điện. Toán trực ba người của Hoa-Kỳ nón sắt, áo giáp dềnh dàng, đang núp trong hầm truyền tin của pháo đội dựng bằng bao cát giữa lều. Tôi lật tấm bản đồ, chỉ cho anh sĩ quan trưởng toán hai vị trí pháo địch, yêu cầu anh ta cho phản pháo tối đa, càng nhanh càng tốt. Tôi ló đầu ra cửa hầm la to:

“Coi chừng tiền pháo hậu xung Duyên ơi!”

Thiếu úy Duyên một tay cầm đèn bấm, tay kia kéo ông Thượng sĩ Lạc, chạy ra phòng tuyến ngoài của đại đội.

Trận pháo kích diễn ra lâu chừng năm, sáu phút là chấm dứt. Tôi và Hạ sĩ nhứt Ðức, y tá đại đội, đi quanh phòng tuyến, kiểm điểm tổn thất của quân bạn. Trong khi đó pháo đội Mỹ khạc đạn liên tu bất tận, có lẽ cả trăm viên 105 ly đã tưới lên vùng nghi ngờ có hai khẩu pháo của quân thù.

Ðại đội tôi có một người chết và bốn người bị thương. Pháo binh Mỹ có hai anh lính bị thương. Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân vô sự. Một chiếc xe GMC kéo súng của Mỹ bị bể đầu máy. Hai khẩu đại bác bị xẹp lốp. Chiếc xe Jeep của tôi bị một mảnh cối đục lủng thùng xăng.

Trực thăng tản thương Hoa-Kỳ được gọi tới cấp kỳ. Hai chiếc Gunships tưới đạn vô tội vạ sát vòng đai căn cứ, để bảo vệ cho chiếc máy bay tải thương. Tôi phải cho lệnh ba cái tiền đồn chớp đèn để khỏi bị trực thăng võ trang bắn lầm.

Sau khi tải thương xong, căn cứ hỏa lực Tứ-Quý nằm im thin thít. Ðèn đuốc tắt ngấm. Hết tiếng nhạc radio xập xình. Duy nhất chỉ còn cái máy phát điện 40KWA là dám “bình! bịch! bình! bịch!” suốt canh khuya.

Năm giờ sáng Trung tá Dõng gọi tôi lên gặp mặt và ra lệnh.

– Sáng mai Long cho mở đường ngược ra quốc lộ để Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn và Pháo Binh rút về Ðại-Nga,Tân-Hóa.

Suốt đêm, tôi cứ ấm ức vì cú thua lỗ của đại đội mình, nên tôi đề nghị với người chỉ huy,

– Xin Trung tá cho tôi ở lại trong này hai ngày, hai đêm. Tôi muốn gỡ lại món nợ đêm qua.

Trung tá Dõng ngẫm nghĩ một lát rồi gật gù,

– Không ai bắt em làm việc này. Nhưng nếu em muốn, thì tôi sẽ làm công điện hợp thức hóa. Nhớ là chỉ hai ngày thôi! Và phải thật cẩn thận đó nghe!

Trưa hôm đó việc rút quân của Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân và Pháo Binh hoàn tất. Tôi ra lệnh cho đại đội chuẩn bị sẵn sàng hai ngày cơm sấy và nước uống. Tuyệt đối cấm khói lửa và hút thuốc trong suốt bốn mươi tám giờ sắp tới. Quân nhân đơn vị tôi đã rất quen với những tình trạng căng thẳng như thế này từ khi tôi về chỉ huy họ. Lệnh tôi đã ban ra, thì mọi người răm rắp nghiêm chỉnh thi hành ngay.

Tôi bung các toán tuần tiễu ra các ngả đường gìn giữ an ninh để tôi nghiên cứu thực địa, thiết trí một cuộc phục kích.

Hướng Nam của nhà máy có một lô trà với hình dáng mũi tàu. Bố quân quanh lô trà này, có thể kiểm soát được ba con đường tiến sát từ các hướng Ðông, Ðông Nam, và Nam.

Tôi phân công:

Trung đội 3 của Chuẩn úy Ðinh Quang Biện và khẩu đội đại liên M 60 của Hạ sĩ Nguyễn Bổng sẽ đảm trách công tác phục kích.

Ban chỉ huy đại đội cùng hai Trung đội 1 và 2 sẽ đóng quân cách khu phục kích hai trăm mét về hướng Bắc để tiện di động đánh bọc trái, hoặc phải cho Trung đội 3.

Tôi và khẩu đội đại liên M 60 của Hạ sĩ Nguyễn Nhứt sẽ đi với thành phần tiếp ứng là Trung đội 1 của Trung sĩ 1 Ngọ.

Thiếu úy Duyên, Thượng sĩ Lạc và khẩu đội cối 60 ly ở với thành phần trừ bị là Trung đội 2 của Thượng sĩ Em. Tất cả các máy truyền tin sẽ tuyệt đối giữ yên lặng vô tuyến cho tới khi nào có tiếng súng nổ.

Một buổi chiều và một đêm yên tĩnh trôi qua.

Ðúng mười giờ sáng hôm sau… súng nổ! Súng nổ ròn rã hướng Trung đội 3.

Tôi cảm thấy yên tâm, khi nghe rõ ràng tiếng súng của quân ta đang áp đảo tiếng súng của quân địch.

Chuẩn úy Biện báo cáo,

– Trình Thái Sơn! Có khoảng mười thằng từ trong rừng đi ra. Chúng nó chạy về hướng bên phải.

– Nhận 5! Giữ vững vị trí. Tôi và thằng 1 sẽ lên ngay.

Lập tức, Trung đội 1 cùng khẩu đội đại liên M 60 dàn hàng ngang, vừa bắn vừa tiến về hướng chính Nam. Thời gian này đạn dược thật là dư dả, dồi dào. Tôi thấy rằng, dùng hỏa lực tối đa để áp đảo quân địch, tiết kiệm xương máu cho quân bạn, cũng là một điều hay. Vì thế, mỗi khi chạm trận, tôi cho phép anh em tác xạ thả giàn. Tới sát con lạch hướng Nam, chúng tôi ngừng quân, bố trí và lục soát kết quả. Kết quả thật nghèo nàn, không thấy xác thằng Việt-Cộng nào. Chiến lợi phẩm chỉ là bốn cái mũ lưỡi trai Trung-Cộng rơi trên luống trà và hai băng đạn AK bắn dở dang.

Tôi cho Trung đội 3 dàn hàng ngang lục soát thẳng hướng chính Ðông, tức là xạ trường chính của cuộc phục kích. Chúng tôi tìm được hai xác địch và hai khẩu AK 47 trên đường phân lô. Hai tên Việt-Cộng này nằm chết cách tuyến phục kích chừng năm thước. Cách hai cái xác đó không xa là một cái cặp da màu đen, với dây đeo ngang hông, thường dùng cho các cán bộ cấp cao. Cái dây đeo cặp bị đạn bắn đứt, nhưng người đeo cặp đã chạy thoát.

not-thang-tram2
nguồn reddit

Tôi ra lệnh lục soát kỹ sâu vào hai bên bìa rừng, dọc theo con đường xe be đất đỏ, dẫn về hướng rừng xanh hướng Ðông. Ði xa chừng hai trăm thước, chúng tôi phát giác một kho gạo khổng lồ, cao ngất, toàn là loại bao chỉ xanh 100 kg. Kho gạo nằm dưới tàn cây cao, và được bao bọc che chở bằng những tấm vải nhựa dày màu xanh tránh gió mưa.

Tôi báo cáo tin tức này cho Trung tá Liên Ðoàn Trưởng. Trung tá Dõng rất mừng. Ông ra lệnh cho tôi án binh chờ phương tiện chuyên chở tới đem chiến lợi phẩm về Tiểu-Khu. Xế trưa, sáu chiếc xe be nối đuôi nhau vào chuyển vận hết kho gạo ra tỉnh, và tôi được lệnh rút quân ra quốc lộ.

Ra tới đường, trong khi chờ xe đưa về Tân-Hóa, tôi mới mở cái cặp da chiến lợi phẩm ra xem có tài liệu gì quan trọng không.

Cái cặp da chứa một quyển sổ ghi tên các cán binh trực thuộc tỉnh đội Lâm-Ðồng của Việt-Cộng. Một sổ tay ghi chi thu hàng tháng của tỉnh đội. Một sổ công tác cá nhân. Một cái bấm móng tay. Một cái lược nhựa. Ðặc biệt trong ruột quyển sổ công tác có một tấm ảnh cỡ 4×6 đã cũ, ép nhựa, tránh ẩm ướt.

Tôi tò mò ngắm nghía cái ảnh. Thì ra đó là một cái ảnh gia đình. Một gia đình hai vợ chồng trẻ. Người vợ bế đứa con chừng tám tháng tuổi, có lẽ là con gái. Hình người đàn bà bị ố vàng, nhìn không rõ mặt. Mặt người đàn ông và đứa bé thì không bị lem. Lật mặt sau tấm ảnh, tôi là dân Hội-An, nên hơi giật mình, khi thấy sau lưng tấm ảnh có ghi hàng chữ bằng bút “rông” mực tím, “Fai-Foo 1952”. Như vậy tấm ảnh gia đình này phải được chụp năm 1952 ở Hội-An (Fai-Foo).

Chiều hôm đó đại đội tôi được đưa về bãi cỏ phía sau lưng cư xá của nhân công hái trà ở xã Tân-Hóa. Chúng tôi tiếp tục giữ căn cứ hỏa lực và làm trừ bị cho Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân. Khi giao nộp tài liệu tịch thu được cho Ban 2 Liên Ðoàn, tôi đã giữ lại cái ảnh của gia đình vợ chồng người Hội-An để làm kỷ niệm.

Tối hôm ấy, Thiếu úy Duyên và Chuẩn úy Biện chui vào lều của tôi để uống bia và tán gẫu. Anh Biện chợt hỏi tôi,

– Này Trung úy! Trung úy có tin con người ta có số mạng hay không?

– Làm sao biết được? Có lúc tin, mà có lúc cũng không.

Biện trầm ngâm,

– Chắc là con người ta có số ông ạ! Sáng nay tôi nhìn tận mặt thằng cán bộ đeo cái cặp đi giữa hai thằng bộ đội hộ tống. Tôi thấy rõ cả bộ lông mày xếch ngược và đôi mắt sáng quắc của nó đảo qua, đảo lại. Tôi đã chờ cho ba tên đi đầu còn cách bốn năm thước mới khai hỏa. Hai mươi lăm khẩu M16 và một khẩu M 60 bắn như mưa mà chỉ có hai thằng chết. Mà cái thằng đứng gần nhứt lại không chết, thì có phải là con người ta có số không?

Tôi rút cái ảnh chiến lợi phẩm ra, đưa cho Biện,

– Có phải thằng cán bộ đeo cặp là người này không?

Anh trung đội trưởng nheo mắt ngắm tấm ảnh,

– Giống lắm! Nhưng người trong ảnh trẻ hơn nhiều.

Hôm sau tôi căn dặn Thiếu úy Duyên ở nhà trông coi đại đội để tôi về phố hớt tóc và ghé hậu trạm ký sổ ứng tiền ăn tháng tới. Trước khi trở về vị trí đóng quân, tôi tạt vào thăm gia đình cô giáo Ngọc vài phút, nhân tiện cho cô xem cái ảnh của người Hội-An.

Tôi tới xóm Chùa vào lúc cô giáo về nhà nghỉ trưa. Bé Châu và bé Hạnh đi vắng.

Thấy tôi, cô ân cần,

–  Em mới về hả? Tiện bữa, ngồi ăn cơm với cô nhé. Cơm rau mắm thôi.

– Cám ơn cô, em ăn cơm rồi. Em ghé thăm cô vài phút rồi đi liền.

Tôi lục túi, lấy tấm ảnh đưa cho cô giáo,

– Cô xem có quen ai trong ảnh này không?

Cô giáo thấy tôi từ chối ăn cơm, cô có vẻ không vui,

– Cô ít giao thiệp lắm. Cô không có nhiều bạn. Chắc cô không biết ai mô!

Cô hờ hững không thèm đưa tay nhận tấm ảnh.

Tôi chìa cái ảnh trước mặt cô. Cô miễn cưỡng nhìn cái ảnh. Mắt cô vụt sáng lên ngạc nhiên. Cô giáo giựt tấm ảnh trên tay tôi, giọng cô có vẻ mất bình tĩnh,

– Em… em… nhặt được tấm hình ni ở mô rứa? Tấm hình ni anh Như giữ. Mần răng nó tới tay em được?

Rồi hình như cô sực nhớ ra điều gì đó, cô bình tĩnh, ôn tồn trở lại,

– Ừ cô nhớ ra rồi, trước khi rời Hội-An, anh Như đã đưa cái hình ni cho bên nội. Chắc người bên nội đưa nó cho em?

Quả thực khi đưa cái ảnh cho cô giáo Ngọc xem, tôi chỉ có ý nghĩ là cô ở Hội-An từ trước ngày Hiệp Ðịnh Genève ký kết, có thể cô quen biết gia đình người trong ảnh. Tôi đâu ngờ diễn tiến sự việc lại xoay qua một chiều hướng không lường trước. Thì ra, những người trong ảnh lại chính là gia đình thầy Như, cô Ngọc và bé Châu! Chẳng biết xử trí ra sao, tôi đành nói đại,

– Hôm qua có anh lính nhặt được cái ảnh này trong sở trà Tứ-Quý. Em nghi là của gia đình cô nên mang về cho cô.

Không dè, nghe tôi nói thế, cô giáo cuống cuồng,

– Em nói răng? Em nhặt được nó trong Tứ-Quý ư? Có thật không rứa?

– Em nói thật mà. Nhưng vì cớ gì mà cô lo sợ như thế?

– À… không… không, cô có lo sợ chi mô em…

Vừa khi đó thì có tiếng xe Honda rồ ga lên dốc. Chắc bé Châu, bé Hạnh đã về.

Cô giáo nhìn tôi khẩn khoản,

– Em ơi! Em thương cô thì đừng tiết lộ cho ai biết chuyện tấm hình ni, kể cả hai đứa nhỏ. Cô van em đó! Em ơi…

– Vâng, em sẽ không nói gì về cái ảnh này nữa. Thôi em đi nhé. Hôm nào rảnh, em sẽ về thăm cô.

Tôi ra cửa đúng lúc hai cô nữ sinh Trung Học Bảo-Lộc vào tới sân. Hai đứa em tíu tít,

– Anh Long mới về? Ủa mà sao anh lại đi liền? Bộ anh chê cơm nhà nghèo không ở lại ăn với chúng em hay sao?

– Anh phải đi ngay. Anh đi hành quân.

Sáng hôm sau Trung tá Dõng cho người xuống mời tôi lên lều của ông để uống cà phê và ăn xôi đậu phọng. Ông nói,

– Chú tịch thu được kho gạo lớn quá. Ông Tướng Ân vừa gọi máy hứa, sau khi kết thúc chiến dịch sẽ tưởng thưởng xứng đáng cho đại đội của chú. Ông muốn khích lệ tinh thần của anh em, nên trưa nay, nhân dịp đi gắn huy chương cho Ðịa Phương Quân Tiểu-Khu Tuyên-Ðức, trực thăng của ổng sẽ ghé đây bốc chú và một anh binh sĩ xuất sắc nhất đại đội về Ðà-Lạt nhận huy chương trước.

Bốn mươi ba năm sau, tháng Ba năm 2011, ông cụ Nguyễn Bổng, sáu mươi bảy tuổi, cựu Biệt Ðộng Quân xạ thủ đại liên M 60, hiện đang sống ở Denver, tiểu bang Colorado Hoa-Kỳ, qua điện thoại, với giọng nói Bình-Ðịnh rặt, nửa vui sướng, nửa bùi ngùi, nhắc lại kỷ niệm này:

“Ngày đó chỉ có tui với trung úy được bốc về sân vận động Ðà-Lạt để cho ông Tướng Ân gắn huy chương. Hãnh diện quá chừng chừng…”

Sau chiến tranh cả mấy chục năm, khi gặp lại, đồng đội cũ của tôi ở Ðại đội 1/11 Biệt Ðộng Quân vẫn kêu tôi là trung úy, “Trung úy ơi! Trung úy dạo này có mạnh khỏe không?…”

Sau khi Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 2 di chuyển lên Tùng-Nghĩa thì đại đội tôi cũng lên vùng núi Voi và Ðơn-Dương để hành quân diều hâu. Cho tới cả tháng sau tôi mới có dịp trở về ứng chiến ở sân bay Con Hinh Da, Bảo-Lộc.

Bố quân xong, tôi lên xe trực chỉ xóm Chùa.

Tới nhà cô giáo Ngọc, tôi thấy căn nhà vắng lặng. Ông già “Bàn đèn thuốc phiện” ló đầu ra khỏi cửa gọi,

– Ông trung úy ơi! Có người gửi thư nhờ tôi đưa giùm cho ông đây.

Lá thư cô giáo viết cho tôi chỉ vỏn vẹn có mấy giòng, không ghi ngày tháng, không có tên người nhận, và người viết cũng không ký tên,

“Cô cắn cỏ ngậm vành ghi tạc ơn em.

Mong em giữ kín trong lòng đừng cho ai biết rằng em đã quen biết gia đình cô.

Hãy hứa với cô rằng em sẽ quên tất cả những gì em biết về gia đình này nhé em!

Cám ơn em và chúc em vạn phần may mắn.

Vĩnh biệt!

Cô của em.” 

Căn nhà tuy khóa cửa chính, nhưng cửa sổ vẫn mở. Tôi nhìn rõ vật dụng trong nhà vẫn y nguyên. Kể cả cây ghi ta vẫn còn trên tường. Như thế tôi hiểu rằng lúc dọn nhà, chắc mẹ con cô giáo đã vội vàng, hấp tấp lắm.

Tôi thẫn thờ bước chân xuống đồi. Tôi và gia đình cô giáo Ngọc xa nhau tám năm. Vừa mới gặp lại hai ngày, nay đã chia ly lần nữa.

Trở về phi trường, tôi nói với anh Duyên rằng, anh ấy có thể lấy xe đi đâu thì đi, đi tới bao giờ về cũng được, đừng lo lắng gì cả.

Nằm trong lều, vắt tay lên trán, tôi ôn lại những chuyện xảy ra trong thời gian đã qua. Chuyện rõ như ban ngày, sao tôi không nghĩ ra nhỉ?

Năm 1960 là năm Mặt Trận Dân-Tộc Giải-Phóng Miền Nam ra đời. Cuối hè năm đó, học sinh Hội-An thiếu gì người bỏ học, vào bưng? Dịp này, thầy Như đem gia đình vào Blao, nơi xứ lạ, để không ai biết gốc gác lai lịch gia đình thầy. Không phải lo lắng chuyện nhà, thầy Như có thể yên tâm đi theo ý nguyện của mình. Chắc cô giáo Ngọc biết chồng cô đang hoạt động trong địa phận tỉnh Lâm-Ðồng này, nên bất ngờ thấy tấm ảnh cũ, cô lo sợ, giấu diếm quanh co. Cô nói trớ ra rằng nó đã được chồng cô giao cho người bên nội giữ, nhưng cô quên trước đó vài ngày cô đã kể cho tôi chuyện chồng cô là người cuối cùng của dòng họ Võ ở thôn Trà-Ðình 2, Hương-An, Thăng-Bình, Quảng-Nam. Như vậy, tên cán bộ Việt-Cộng bị đại đội tôi giết hụt ở Tứ-Quý không ai khác hơn là thầy Như! Vì sợ tôi tiết lộ việc này cho con của cô biết, và sợ bị kết tội liên lụy với Việt-Cộng, nên cô Ngọc vội vàng dẫn con ra đi.

(mời xem tiếp kỳ 3)