Menu Close

Những đứa con Trung-Học Trần Quí Cáp (kỳ 3)

Vì Pleime là một tiền đồn trọng yếu của Vùng 2, nên yêu cầu của tôi đã được cấp trên thỏa mãn ngay lập tức. Nào ngờ, ông Trung úy sĩ quan trợ y có tên trên lệnh bổ sung gửi cho tôi, lại là một người bạn của tôi thời niên thiếu: Nguyễn Hồng Khanh.

Tôi và Khanh đã học chung lớp suốt ba năm sau cùng dưới mái Trường Trung Học Trần Quí Cáp.

Anh Khanh bị loại năm cuối cùng tại Ðại Học Dược Khoa Sài-Gòn, bị gọi đi Sĩ Quan Trừ Bị, rồi bị đưa về phục vụ ở Tiểu Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân ở Biển-Hồ (Pleiku).

Thời gian này (1974), đơn xin học lại năm chót Dược Khoa Quân Y của Trung úy Khanh đã được chấp thuận, nhưng vì nhu cầu công vụ, anh phải tạm thời vào Pleime làm việc với tôi trong khi chờ người thay thế.

Tôi thấy ở Pleime, Tử Thần rình rập từng giờ, từng ngày; bạn tôi lên đường càng sớm càng hay. Tôi vội ký sự vụ lệnh cho Trung úy Nguyễn Hồng Khanh ra đi.

Mãi một năm sau (tháng 1/1975) tôi mới được bổ sung ông Sĩ Quan Trợ Y mới.

Hiện nay (2009) Dược sĩ Nguyễn Hồng Khanh vẫn còn hành nghề thầy thuốc ở Hội-An. Không biết người cựu chiến binh Biệt Ðộng Quân này có nhớ gì Pleiku không?

o O o

Ba chú bé trong xóm Hồ Sen, từng có lần trêu chọc tôi, “Anh Long có bồ! Lêu!… Lêu!…” đã nghe lời cha mẹ dặn, lớn lên noi gương “Cậu Long” cố gắng học hành.

Ngày tôi ra trường Võ-Bị, đầu đội cái mũ nâu, về thăm nhà, chúng nó đã trở thành học sinh Trung-học Trần Quí Cáp. Ba thằng em bu quanh tôi, miệng hát,

dua-con-trung-hoc-tran-qui-cap
Hình chụp tại Westminster 2007

“Biệt Ðộng Quân…chết trên rừng,

Nghe thế, mẹ tôi trừng mắt,

– Các cháu đừng nói gở…

Cả ba đứa toét miệng ra cười,

– Anh Long ngon quá! Mai này lớn lên tụi em sẽ đi theo anh…

Ðầu năm 1974, có một chuẩn úy mới ra trường đáo nhậm đơn vị. Khi nghe anh nói chuyện giọng trăm phần trăm Quảng-Nam, tôi tò mò,

– Chú nói tiếng Quảng không pha một chút nào. Vậy chứ chú em quê ở đâu?

– Em quê Hội-An.

– Em có học Trần Quí Cáp không?

– Em tốt nghiệp Trần Quí Cáp sau Thiếu tá chín năm.

– Vậy ra em có biết anh?

– Em ở trong khu Hồ Sen, Chùa Âm-Bổn. Nhà em gần nhà Thiếu tá.

–  Em tên là gì?

– Em tên Trương Trọng Tài. Nhưng em thích được gọi là Trương Thiên Tài.

– Ừ thì anh sẽ gọi em là Trương Thiên Tài. Nhà em ở chỗ nào khu Hồ Sen?

– Nhà em cách nhà bác Thạnh hai căn, đâu lưng với nhà bác Nhuận, tài xế.

– Anh nhớ ra rồi, nhóm em có ba đứa. Hai đứa kia giờ này ở đâu?

Ðôi mắt người sĩ quan trẻ chợt buồn,

– Thiếu tá ơi! Chúng nó bỏ học ngang xương, tình nguyện đi lớp Hạ Sĩ Quan. Hai đứa đều về Tiểu đoàn 39 Biệt Ðộng Quân. Trận Hạ Lào, chúng nó không về. Lớp tuổi của em, trong xóm mình, còn có mình em thôi.

Như thế là, hai đứa em trong xóm, đã theo chân “Anh Long” thành Biệt Ðộng Quân, và đã… chết trên rừng.

Nghe Tài kể chuyện, tôi chợt cảm như có cái gì đó làm tôi nghẹn hơi. Có cái gì đó làm tôi khó thở. Ngực tôi đột nhiên nặng như chì.

Năm 1974, chiến dịch mùa mưa Cao-Nguyên khởi đầu sớm hơn mọi năm.

Một hôm, bình minh lên cùng với tiếng súng. Mưa pháo ào ào cày xới Căn Cứ Hỏa-Lực 711, Pleiku. Tiểu đoàn 82 Biệt Ðộng Quân QLVNCH bị hai trung đoàn Cộng Quân xa luân chiến tấn công.

Chín giờ sáng ngày 14 tháng Tư năm 1974 Chuẩn úy Trương Thiên Tài bị thương vào tay trái. Băng bó vừa xong, người trung đội trưởng lại vội vã lao ra chiến hào. Trận đánh càng lúc, càng thêm ác liệt, và kéo dài suốt đêm. Lực lượng trừ bị sau cùng của tiểu đoàn đã được tôi tung vào trận địa để chống đỡ những đợt biển người liên tiếp của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản Bắc-Việt.

Tám giờ sáng ngày 15 tháng Tư năm 1974, Trung đội trưởng Trung đội 3/ Ðại đội 3/ Tiểu đoàn 82 Biệt Ðộng Quân gục trên chiến hào, cách tôi và Thiếu úy Phiến, Ðại đội trưởng Ðại đội 3/82 vài thước. Chuẩn úy Trương Thiên Tài vỡ ngực vì một băng AK 47 trong đợt tấn công biển người lần thứ sáu của Cộng Quân trong hai ngày kịch chiến.

Hôm đó, nơi tiền đồn biên giới Pleime, trong màn lửa đạn mịt mù, một đàn anh Trần Quí Cáp vuốt mắt cho một đàn em Trần Quí Cáp.

Em gục xuống rồi. Từ nay trong xóm mình, lớp tuổi của em, không còn ai nữa!

Biệt Ðộng Quân chết trên rừng,

…cầu mong cho hậu phương bình yên.”

Như giòng Thu-Bồn chảy mãi không ngừng. Từ nơi đó ra đi, những thế hệ học sinh đã theo chân nhau đóng góp tuổi trẻ, mồ hôi, và xương máu, cho quê hương Việt-Nam, làm rạng danh Trung-Học Trần Quí Cáp.

Thời chiến tranh, biết bao thanh niên đã lên đường ra mặt trận. Mỗi năm, bạn bè tôi cứ hao hụt dần. Các anh Trần Ngọc Lợi, Lưu Lương Cơ, Hoàng Công Thưởng, Trương Ðình Bảy, Khưu Vỹ Hoàn, Trần Quế Chính, Hồ Hùng, Ðỗ Bá, đã đền nợ nước.

Cho tới đầu tháng Năm năm 1975, vào một ngày rất buồn, tôi gặp lại Niên Trưởng Nguyễn Ðức Tâm trong Khu Ðăng Ký Sĩ Quan Cấp Tá của Ủy Ban Quân Quản, đường Trần Hoàng Quân, Sài-Gòn. Thiếu tá Nguyễn Ðức Tâm là vị tiểu đoàn trưởng sau cùng của Tiểu đoàn 14 Nhảy Dù.

Hai anh em nhìn nhau, mắt lệ rưng rưng. Chúng tôi đã không làm tròn sứ mệnh quê hương giao phó. Chúng tôi đã đánh mất quê hương.

“Quê hương tôi

Bao người bỏ chạy vì đâu?

Bao oan khiên chìm đáy biển sâu

Từ ngày ba mươi tháng tư năm ấy

Quê hương tôi là tất cả thương đau… “

(Thơ VMLong)

Rồi chúng tôi bị đưa vào các trại tập trung cải tạo. Từ đó, tôi bắt đầu cuộc đời tăm tối không ngày mai. Nhiều đồng ngũ của tôi bị xử tử vì tội vượt ngục.Vượt ngục không thành, nếu may mắn không bị xử bắn, thì cũng bị cách ly, kiên giam, bỏ đói, nhốt trong hầm tối một thời gian. Hai lần vượt ngục bất thành của tôi ngoài Hoàng-Liên-Sơn cũng làm cho tôi mất một cái răng, và gãy một cái xương sườn, sau những trận đòn thù của bộ đội Ðoàn 776 Quân-Ðội Nhân-Dân Việt- Nam.

Truyện kể về cuộc đời sau chiến tranh của những người thất trận là một truyện trường thiên đầy nước mắt, không bút giấy nào ghi cho hết.

o O o

Sau mười ba năm tù cải tạo, tôi về. Một hôm, trên đại lộ Trần Hưng Ðạo, Sài-Gòn tôi gặp Nguyễn Tăng Kỷ đạp xe lọc cọc ngược chiều. Thấy tôi, hắn giơ tay vẫy, miệng cười thân thiện. Tôi nghếch mặt lên trời ngắm cánh én bay, không đáp lại cái vẫy tay của người bạn bảy năm Trần Quí Cáp này.

Rồi sau đó tôi được nghe bạn bè nói lại rằng, chỉ vài năm sau ngày Miền Nam sụp đổ, Nguyễn Tăng Kỷ đã mở mắt ra. Giấc mơ thiên đường Xã-Hội Chủ-Nghĩa của nó thành mây khói. Vợ nó chết rồi. Con gái nó đã ra khơi làm thuyền nhân, đang định cư ở Úc. Biết điều này, tôi mới hiểu vì sao, hôm đó cái vẫy tay của nó lại có vẻ thiết tha như thế. Khi nghe tin thằng Kỷ đã sang Úc sum họp với gia đình con gái nó, tôi cũng mừng cho nó.

Năm 1993 gia đình tôi lên đường đi Mỹ theo diện HO.

Tháng 9 năm 2007, nơi quê người, tình cờ tôi gặp lại Nguyễn Lợi nhân một chuyến về chơi Westminster, Nam California .

Quả đúng như nhận xét của Thục Anh, cô học trò của tôi,

“Anh Nguyễn Lợi trông già không ra già, trẻ không ra trẻ, vừa gặp là nhận ra ngay…”

Bao năm qua, mà “dung nhan” của Nguyễn Lợi chỉ thay đổi tí ti thôi. Bởi thế, nơi sân khách sạn Little Saigon, khi nghe tiếng người xứ Quảng,

“Ê! Lang! Có phửa Giương Mộng Lang đó khô… ông?”  (Ê! Long! Có phải Vương Mộng Long đó không?) quay lại, tôi nhìn ra “con ma xó” này ngay. Tôi lén đặt cho nó cái hỗn danh “con ma xó” là vì, chuyện trên trời dưới bể, cái gì nó cũng biết, cái gì nó cũng rành. Nguyễn Lợi giúp tôi tìm được Mạc Phi Hoàng và nhà thơ Phùng Minh Tiến. Mấy thằng này vẫn còn tươi rói, mặc dù mái tóc thằng nào cũng có vẻ nhạt màu và thưa đi nhiều, không còn bồng bềnh đen nhánh như thời chúng nó mới vào Ðại Học Chính-Trị Kinh-Doanh, Ðà-Lạt.

Ngày đó, cậu học trò Mạc Phi Hoàng nhút nhát lắm. Trong bảy năm, nó âm thầm ôm ấp hình bóng một giai nhân lớp dưới mà không ai hay. Nó đã thú nhận cái nhút nhát của mình, qua bài “Hoa Tuyết Phi”

“Chàng yêu tha thiết cả con tim

Cay đắng thương đau với nỗi niềm

Câm nín ngàn lần không dám nói

Bảy năm mòn mỏi gục bên thềm…”

(Thơ Mạc Phi Hoàng)

Quả thực, cho tới bây giờ tôi mới biết rằng Mạc Phi Hoàng cũng là tay yêu văn thơ. Có lẽ vì thế mà nó kỳ khu, miệt mài lấy cho được mảnh bằng Cử-Nhân Văn-Khoa của Viện Ðại Học Ðà-Lạt.

o O o

Năm 2009, nhân dịp  “Kỷ niệm 46 năm ngày nhập Khóa 20 Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam” vợ chồng tôi lại về Nam Cali. Dịp này tôi mời ba ông khách quý tới dự đêm dạ tiệc với bạn bè đồng khóa của tôi. Ông Mạc Phi Hoàng, cựu Phó Ty Cảnh-Sát Tỉnh, đang bị bệnh giời leo vật té ngửa, không tới được. Chỉ có ông Nguyễn Lợi, cựu Chánh-Văn-Phòng Phủ Thủ-Tướng và ông Phùng Minh Tiến, cựu Uỷ-Viên Giám-Sát-Viện hiện diện đêm tiếp tân. Hai đứa này có dịp tha hồ tâm sự cùng bọn đồng môn Trần Quí Cáp đã đi K20 Võ-Bị còn sống sót. Những đứa con Trung-Học Trần Quí Cáp gặp lại nhau nơi đất khách, mừng mừng tủi tủi.

Hôm đó, những kỷ niệm của đoạn đời thơ mộng ngày nào chợt sống lại. Một con lộ cắt ngang ruộng rau muống, đêm đêm ếch nhái kêu vang, trước Khổng Miếu tối om; một đoạn phố ven sông, có ánh đèn điện mờ mờ, từ Chùa Cầu tới rạp Hòa-Bình; một khúc đường quê bốn mùa hoa nở từ Chùa Sư Nữ xuống Phước-Trạch; hay cái lối mòn hun hút, ngoằn ngoèo trên cồn cát cháy nắng sau Chùa Long-Tuyền; những con đường in dấu chân thời mới lớn, những mối tình học trò, đã là những đề tài nói mãi không thôi.

dua-con-trung-hoc-tran-qui-cap1
Vợ chồng Vương M Long chụp cùng Cô Bạch Vân và phu quân (Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng) – Seattle, 2014

Hết chuyện thế giới, chuyện quê nhà, tới chuyện gia đình vợ con, chúng tôi hàn huyên suốt buổi. Ðêm sao ngắn quá! Mà tâm sự thì chưa thổ lộ hết cho nhau.

Tôi cứ thắc mắc trong lòng, thằng Nguyễn Lợi ly dị vợ, sống một mình đã đành; chuyện thằng Phùng Tiến đang đơn côi mới là điều đáng ngạc nhiên. Bộ thằng khờ này không biết Việt kiều đang rủ nhau về quê cưới vợ rần rần hay sao? Tôi nhắc Tiến,

– Người xưa đâu?

Nó chỉ lắc đầu cười, rồi đưa tặng tôi một tập thơ nhiều tác giả, xuất bản cách đây khá lâu.  Trong “Tuyển Tập Thơ Quốc Gia Hành Chánh” này, tác giả Phùng Minh Tiến có mười bài. Nơi đây, tôi vẫn nhận ra dáng dấp thơ của cậu học trò Ðệ Ngũ, Trần Quí Cáp ngày nào,

“Tôi về thăm bóng trăng xưa

Còn đâu bến cũ mà đưa tiễn người

Sông Thu nay lở mai bồi

Bèo tan cửa Ðại, mây trôi phương nào.

Nửa đời chưa hết lao đao

Bốn mươi năm lẻ làm sao quên người.

Trời ơi! Thoáng một nụ cười

Theo nhau chi để lụy người núi sông?”

(Thơ Phùng Minh Tiến)

Ðời người đâu có dài cho lắm? Vậy mà, hơn bốn mươi năm sau, nụ cười của một người Hội-An vẫn chưa nhạt phai trong tim một người.

Bây giờ là thế kỷ 21. Một trang sử đã lật qua. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Mỗi người con Trung-Học Trần Quí Cáp có những nỗi niềm tâm sự riêng khi nhớ về nơi ấy. Nhưng cứ mỗi lần nghe ai nhắc tới tên ngôi trường này, lòng tôi lại cảm thấy dạt dào thương nhớ.

Tôi mồ côi cha từ nhỏ. Trường Trần Quí Cáp đã làm cái thiên chức của bố tôi, dạy dỗ, uốn nắn, và bao dung che chở cho tôi suốt thời niên thiếu. Tôi đã được trui rèn nhân cách, trau dồi kiến thức, để trở thành một người tốt; biết tự trọng, kiên nhẫn và nhún nhường; biết tự hào là công dân của một nước độc lập, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng tự do. Từ nơi đó, tôi đã lớn khôn. Từ nơi đó, tôi đã thành người.

Tôi đã cống hiến cả cuộc đời mình cho quê hương xứ sở. Tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được để phục vụ đồng bào tôi và đất nước tôi, như bố tôi đã hằng mong. Và trên xứ Thiên-Ðàng, chắc bố tôi cũng đã mỉm cười hài lòng vì đứa con mình.

Bây giờ tôi ở cách xa Hội-An cả một đại dương, nhưng trong tâm tưởng, tôi vẫn có thể mường tượng ra rất rõ, hình ảnh của ngôi trường xưa, cùng nét mặt thân yêu của những người đã một thời dạy dỗ tôi.

 VML

Seattle tháng 10 năm 2009

*Hiệu đính và bổ túc tháng 10 năm 2018 với hình ảnh do cô Bạch Vân cung cấp.