Trong ký ức về quê hương của nhiều vị cao niên, thường hiện lên hình ảnh ruộng vườn đầy cỏ nội hoa đồng, chuồn chuồn, châu chấu và những cánh diều bay lượn.

Cụ Sáu Vĩnh lúc lắc mái đầu bạc phơ, nhớ lại “Làm gì đẹp được bằng bây giờ”… Toàn thân con diều, hai cái vây, ba cái đuôi đều bằng giấy báo đen xì xì. Dây buộc diều là cuộn chỉ ăn cắp trong rổ may của bà chị. Tre làm khung diều, cái gỡ từ vành nón lá, cái chẻ ra từ sào đuổi vịt. Phân công con trai chẻ tre. Con gái quấy hồ dán (là bột năng, bột nếp), cắt giấy làm đuôi diều. Cả buổi trưa trốn người lớn, chui vào xó vườn hí húi. Làm xong, dắt díu nhau đem diều ra đồng thả. Mấy thằng con trai quần đùi cởi trần chạy lấy đà cho diều bốc cao, phớt lờ lời năn nỉ “cho em thả với, cho em cầm một tí thôi” của bọn con gái thò lò mũi xanh. Một đứa trong bọn thò lò mũi xanh tội nghiệp nọ, nay đã ngoài sáu mươi tuổi, cháu nội cháu ngoại đủ đầy, nhớ lại tình cảnh lúc đó “chúng nó ỷ làm được diều, sai tụi này đủ thứ. Đến khi đem thả, xin thế nào cũng không cho cầm. Đã vậy khi diều đứt, còn bị sai chạy đi nhặt. Đồng bãi mấp mô. Chạy bước thấp bước cao, vừa đau chân, vừa ức lòng, khóc tức tưởi. Nhớ mãi…”

Thả diều – tranh Đông Hồ
Con diều “nhớ mãi”, như các cụ đã tự nhận là “làm gì đẹp bằng bây giờ”, quả là đúng, nếu đem so với những con diều đẹp “bá chấy” ở Liên Hoan Diều Hội An năm 2009 và Liên Hoan Diều Quốc Tế Lần 3 ở Vũng Tàu mới đây. Trong liên hoan này, hàng mấy trăm con diều lạ mắt của nước chủ nhà cùng diều Hàn Quốc, New Zealand, Brazil, Trung Quốc, Nhật Bản, Mã Lai, Canada… bay lượn rực rỡ trên bầu trời xanh trong. Khách ta, khách tây tụ tập đông vui trên bãi biển. Người dùng ống dòm, người khum tay che mắt nghển cổ dõi theo những con diều đẹp, lạ. Từ ngày 6 tới ngày 10 tháng Tư, là thời gian diễn ra liên hoan diều quốc tế, bầu trời Vũng Tàu lúc nào cũng đầy diều hình cá, cua, tôm hùm, bạch tuộc, rồng, phượng, siêu nhân, anh hùng truyền thuyết… vừa bay lượn vừa phát nhạc réo rắt vi vu, vừa chớp sáng huyền ảo. Được chú ý nhiều nhất, có diều rokkaku (diều chọi) của Nhật Bản, diều rồng của Trung Quốc, diều phượng của câu lạc bộ diều Huế, diều sáo bầu của Vũng Tàu.

Liên Hoan Diều Quốc Tế Lần 3 ở Vũng Tàu
Ông Minh, thành viên câu lạc bộ diều Vũng Tàu tâm sự, trong khi người xem thoải mái hưởng thụ “đại tiệc diều” thì người tổ chức, người tham dự, hầu như chẳng được gì ngoài giải thưởng tượng trưng và cái tiếng. Để có được thành công, từ hai tháng trước, câu lạc bộ của ông đã chia nhau, người phác hình dáng con diều, người làm khung, người may cắt, vẽ mầu, người cân chỉnh diều theo nguyên tắc khí động học, người khoét hai trái bầu làm sáo… Phần nào cũng rất tỉ mỉ, tốn tiền bạc, tốn thời gian làm đi làm lại. Nếu không thực sự đam mê, không thể theo nổi. Ông Vân, chủ câu lạc bộ diều Phượng Hoàng, một trong những câu lạc bộ diều lớn nhất Sài Gòn. Chỉ tay về hướng con diều bạch tuộc xanh của mình đang bơi mềm mại giữa rừng diều trên không, ông cho biết vắn tắt “Dài 65 mét, ngang 6 mét, may hết 500 mét vải, nặng 25 ký lô. Cứ vậy mà tính ra”. Tính ra tiền của, chỉ mất chừng năm giây. Cái khó là tính ra công phu thuyết… vợ của ông Vân (và của các ông khác, trót bị diều hành!). Chị Thu Thủy, vợ ông Vân kể, lúc đầu cũng chống diều quyết liệt, vì diều đồng nghĩa với chơi bời tốn kém, bỏ công chuyện làm ăn. Nhưng chồng chị, mặc cho vợ nói, không cãi không chống, cứ âm thầm dốc túi nuôi diều. Rốt cuộc, trời không chịu đất, đất đành phải chịu trời. Theo “trời” đi thả diều mấy lần (thực ra là đi canh, đi coi chừng), “đất” đâm ra lây bệnh mê diều hồi nào không biết. Đến giờ, cặp vợ chồng Vân- Thủy vẫn luôn “song kiếm hợp bích”. Từ họ, câu lạc bộ diều Phượng Hoàng ra đời, quy tập dân mê diều Sài Gòn, sẵn sàng chở đồ lề lỉnh kỉnh đi dự liên hoan diều ở bất cứ đâu, miễn là ban tổ chức “ới cho một tiếng”. Nổi danh hơn, thâm niên hơn, độc đáo, cầu kỳ hơn câu lạc bộ diều Sài Gòn, phải nói tới câu lạc bộ diều Huế. Theo các thành viên câu lạc bộ diều Huế thì từ thời các vua nhà Nguyễn, Huế đã chơi diều. Nhưng phải tới năm 1973, hội diều Cầu Phong mới chính thức được thành lập. Do chính sự thăng trầm, mười năm liền diều Cầu Phong xếp cánh. Năm 1983 mới bắt đầu bay lại. Rồi từ năm 1993 tới nay, tính ra diều Huế có chín lần đại diện diều Việt Nam dự Liên Hoan Diều Quốc Tế – diễn ra hai năm một lần ở Châu Âu. Các “cụ diều” tài hoa thuộc câu lạc bộ diều Cầu Phong như ông Nguyễn văn Cư, Nguyễn Văn Bê, Nguyễn Văn Ry, đã từng được các bạn Pháp mến tài, mời thỉnh giảng về diều.

Con diều bạch tuộc xanh, dài 65m tại Liên Hoan Diều Quốc Tế Lần 3
Từ tên Cầu Phong của câu lạc bộ diều Huế, tên Nghinh Phong của câu lạc bộ diều Khánh Hòa, có thể nhận thấy, một trong những yếu tố quan trọng nhất của thú chơi thả diều, là gió. Không có gió, con diều không sao nhấc mình khỏi mặt đất hoặc chỉ bay gượng gạo rồi nhanh chóng bổ nhào xuống. Ở Việt Nam, từ tháng Hai tới tháng Tư, tháng Năm, thời tiết khô ráo, mùa màng đã thu hái xong, đồng bãi thưa thoáng… là thời điểm lý tưởng cho những cánh diều đùa giỡn gió trời.

Tháng Năm cũng trùng với mùa nghỉ hè, học sinh, sinh viên – nếu không phải thi vào đầu cấp, thi ra cuối cấp – bắt đầu rảnh rỗi, có thể thoải mái chơi thả diều. Cũng cần nói rõ thêm, chơi diều không có nghĩa là biết làm diều. Họ chỉ cần bỏ năm bảy chục ngàn đồng là có thể mua ngay một con diều đẹp mắt, bảo đảm thả dễ, bay nhẹ. Chỗ thả diều, cũng đã “eureka” (tìm ra rồi). Một trong những địa chỉ được giới chơi diều Sài Gòn ưa thích, là Đồng Diều đường Phạm Thế Hiển quận 8.

Đủ loại diều tại Liên Hoan
Không sang Đồng Diều quận 8 thì quận 7, Hóc Môn, dọc quốc lộ 1, quốc lộ 13, cũng không ít Đồng Diều tự phát. Cứ chỗ nào có bãi đất trống bằng phẳng, là dựng xe (đã khóa kỹ), a lê hấp, rút diều ra, chạy lấy đà… Con diều làm bằng vải xoa rất nhẹ, cánh được tô điểm sặc sỡ bằng sơn dầu và bột mầu luy- mi- nơ, uốn lượn trên bầu trời, nhanh chóng phát đi tín hiệu tụ họp. Chỉ một loáng, trong nắng chiều, đồng diều Hóc Môn đông như đám cưới. Người thả diều di chuyển lúc nhanh lúc chậm, tay cầm cuộn cước điều khiển diều. Người xem ngồi luôn trên yên xe, ngước mắt lên trời, nhìn ngắm, chỉ trỏ.

Kẻ viết bài để ý, trong đám thả diều, có một em bé kéo tay vị ni sư đứng tuổi. Vị này cầm con diều ngượng nghịu, lóng ngóng, kiểu chưa thả diều bao giờ. Hai thầy trò bước xuống đồng diều. Chú bé nôn nóng, giằng con diều trong tay ni sư, chạy miết. Đôi chân chú cuống quít như thể không mau lên, con diều chở tuổi thơ của mình sẽ không thể bay cao như người khác. Kẻ viết bài hỏi ni sư sao không tự làm diều, hay hướng dẫn cho em bé làm mà bỏ tiền mua diều làm sẵn. Vị này cười thú nhận, “Lo cho tụi nhỏ mồ côi, nhiều chuyện cần hơn làm diều, mà nào giờ cũng đâu biết cách làm diều”. Ra thế! Cánh diều bay lên trời, trông bề ngoài bình đẳng như nhau, nhưng trái tim con diều, kẻ thả diều, người xem diều, đôi khi khác hẳn tần số vui buồn, sướng khổ!

Ni sư, cháu nhỏ và con diều
Tuổi con diều Việt Nam, nghe đâu phải cả ngàn năm, theo lời kể của các cụ làng Bá Dương, nội- ngoại thành Hà Nội, nơi được cho là phát tích nghề làm diều, nhất là diều sáo, của nước ta. So với diều Trung Quốc già hơn hai ngàn rưỡi tuổi- nghĩa là có đâu từ hồi Xuân Thu – Chiến Quốc, diều Nhật Bản hơn ngàn ba trăm tuổi (do các nhà sư Nhật Bản sang Trung Quốc vào thế kỷ VII, học cách làm) thì diều Việt Nam trẻ hơn. Nhưng dù trẻ hay già, thì ở đâu trên hành tinh này, một khi đã thả lên trời, tất cả diều đều mang theo thông điệp tự do, vui sống. Và có lẽ chính vì thế, trong mùa hè này, giữa bộn bề lo âu của cuộc sống đô thị chán chường, mệt mỏi, người Sài Gòn đã vịn vào cánh diều của mình, thả vút lên trời khát vọng Riêng- Chung.