Tôi đi nhiều nơi, nhưng đây là lần đầu tôi chọn được một motel tọa lạc ngay bên bờ sông Neponset phía Nam thành phố Boston để sáng chiều ngồi bên kè đá ngắm nhìn con nước lớn ròng. Không hiểu sao tôi lại thích sông hơn thích biển. Có lẽ biển mênh mông, bao la không thấy bến bờ và con người thì nhỏ bé dễ làm tâm hồn cảm thấy cô độc. Cũng có lẽ, con sông gắn liền với ký ức cuộc đời tôi trong những lần được trở về bản quán làng hoa Sa Đéc bên bờ sông Tiền đỏ đặc phù sa khi con nước xuống ròng. Nơi đây cũng vậy, bãi sông đang ròng, nước ra biển lớn để “bến vắng chiều thu lãng đãng khói sương mờ, anh lơ đãng nhìn theo làn khói thuốc…” (Về thăm Đồng Tháp của Sông Trà).

Nhìn con sông Neponset và cây cầu vắt ngang làm Tony nhớ về nước Ý
Ngọc Linh
Mà chiều nay đâu chỉ mình tôi thả hồn lãng đãng theo làn khói thuốc. Người ta nói “điếu thuốc làm đầu câu chuyện” thật không sai. Cảnh thu mơ vàng bên kia sông, lại thêm cái lạnh tiết trời kéo chúng tôi lại gần nhau qua những câu chuyện “như nhắc kẻ ly hương nhớ về xứ sở”. Ông tự giới thiệu tên Tony, là một người Mỹ gốc Ý, đang ngụ trong motel, thèm điếu thuốc, ra bờ sông đứng hút. Điều làm tôi ngạc nhiên khi ông chỉ tay sang bãi bồi bên kia, rồi nói: “Nhìn những bụi cattail ven sông, lại có cây cầu hao hao vắt ngang, làm tôi nhớ về nước Ý”. Còn tôi thì giải bày cho ông biết, những bụi cattail đó là cỏ hoang, người dân Việt xứ tôi, lấy gốc chế biến thành thực phẩm thay rau, khiến ông tròn mắt ngạc nhiên không kém. Chỉ bấy nhiêu thôi đủ làm chúng tôi, hai con người của hai chủng tộc màu da, hai ngôn ngữ khác nhau có thể thổ lộ những tình cảm quê hương cất giấu trong lòng bằng chút vốn tiếng Anh không phải của riêng mình.
Ông sống tại New York hơn bốn mươi năm, đến Boston thăm đứa con gái út đang học trường MIT. Lời ông nói ra pha lẫn niềm tự hào vì cả ba đứa con đều có trình độ đại học. Chúng sẽ có cuộc sống thành đạt sau này chắc hẳn hơn cha mẹ cả một đời làm lụng như điên kiếm tiền nuôi chúng trong một thành phố giá sinh hoạt lúc nào cũng đắt đỏ. Nhưng ông vẫn yêu New York cũng như yêu cái thành phố Boston cổ kính này không chỉ vì đứa con gái đang theo học một trong những trường nổi tiếng trên nước Mỹ, mà nơi đây còn có một khu “Little Italy” với những tòa nhà gạch đỏ, những con hẻm nhỏ lát đá xanh mang hình dáng đặc thù kiến trúc thành phố quê hương nơi ông sinh ra và lớn lên trước khi theo gia đình di cư sang Mỹ vào đầu năm 1970.

Tiệm bán đồ ăn Oyster lâu đời của người Ý ở khu North End, Boston
Ông kể: “Vào thời điểm đó, nước Ý bước vào cuộc khủng hoảng chính trị xã hội nghiêm trọng khi chính phủ thực hiện dân chủ hóa khắp các vùng trong nước. Thế nhưng dân chủ hóa không phải là một cải cách tốt, chính quyền các vùng giành giật chia hai ba đảng phái, thanh toán nhau như mafia ngoài xã hội. Đời sống người dân khá hơn nhiều trong thời hậu công nghiệp, cuộc sống đầy đủ không thiếu thứ gì, nhưng gia đình tôi phải di cư, lánh xa thành phố Sicilia đầy rẫy mafia trong xã hội lẫn trong chính quyền. Đến New York, tôi phải nghỉ học đi làm phụ giúp gia đình. Rồi sau đó, tôi định đi lính tham gia chiến trường Việt Nam. Thế nhưng lúc đó chiến tranh đã lụi tàn, Mỹ rút quân về nước, vậy thì tôi dại gì đưa đầu vào cái lò lửa chết chóc đó”. Ông dừng lại một hồi, đốt thêm điếu thuốc, xoay sang nhìn thẳng vào mắt tôi, thanh minh “thời thanh niên sôi nổi giống như tính cách của con người Ý.
Lúc đó, tôi nghĩ nước Mỹ là quê hương thứ hai của tôi. Tôi phải bảo vệ đất nước này trong khi tôi chưa phải là công dân Mỹ. Tôi vẫn còn là người Ý. Nước Ý mới chính là quê hương, đất nước của tôi như hàng triệu người Ý di cư đến Mỹ cả trăm năm trước. Đến nay họ vẫn mang bản sắc văn hóa Ý, vẫn duy trì những lễ hội dân tộc và vẫn nói tiếng Ý, mặc dù họ là người Mỹ… Rồi sau đó, tôi lại tiếp tục đi làm và đi làm, thất nghiệp, rồi lại đi làm cho đến tận giờ thì thất nghiệp thật sự”. Thất nghiệp đã hai năm rồi mà vẫn chưa có việc làm. Giọng ông trầm xuống, không còn vui như khởi đầu câu chuyện.

Hẻm nhỏ lát đá xanh và những ngôi nhà gạch đỏ ở khu Little Italy, Boston
Câu chuyện của Tony nói, làm tôi nhớ có lần đọc đâu đó về vấn đề văn hóa dân tộc đối với người di dân đến Mỹ. Đại thể người ta đưa ra thuyết đồng hóa cho rằng người di dân đánh mất bản sắc quốc gia nguyên thủy của mình một cách tự nhiên, một khi họ tiếp nhận bản sắc quốc gia mình đến cư ngụ. Nói chung người di dân thế hệ thứ hai, thứ ba, hay thứ tư sẽ trở nên Mỹ hóa hơn và mất dần bản sắc chủng tộc của mình. Thực tế lại khác. Nhiều thế hệ di dân người Ý, Ireland, Ba Lan, Nga, Do Thái… đến Mỹ trong thời kỳ đầu vào khoảng những thập niên cuối thế kỷ 19 chẳng hạn. Họ vẫn duy trì các truyền thống văn hóa dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo và phong tục cho đến nay và tiếp tục lối sống tập đoàn qua nhiều thế hệ mà không hòa tan trong cái nền văn hóa người Mỹ. Người Mỹ là ai? Thực chất cũng chỉ là những dân tộc Bắc Âu như Anh, Thụy Điển, Na Uy, Đức lớp di dân đầu tiên đến Tân Thế Giới thành lập nước Mỹ sau này. Nước Mỹ không có ai là người Mỹ chính gốc cả mà là một tạp chủng các dân tộc trên thế giới.
Hàng chữ “E pluribus unum” trên quốc huy của Mỹ, có nghĩa từ số nhiều biến thành duy nhất không chỉ nói lên rằng nhiều tiểu bang thống nhất thành một nước Mỹ. Nó còn bao hàm một ý nghĩa khác. Người ta cho rằng mọi chủng tộc sống trên nước Mỹ sẽ hòa đồng, tạo thành một dân tộc mới, nói nôm na là “nồi luyện kim” (melting pot). Cái “nồi luyện kim” này mãi mãi sẽ không nấu tan chảy bất kỳ một dân tộc nào mà tự nó trở thành một tô sà lách (salad bowl) cho mỗi chủng tộc với nền văn hóa dân tộc riêng biệt. Sự chia rẽ, đố kỵ giữa các chủng tộc xuất hiện từ khi Mỹ thành lập nước đến ngày nay chính là nguyên nhân tiềm ẩn, có lúc âm ỉ , có lúc thô bạo khi quyền lợi kinh tế hay chính trị xã hội bị va chạm. Người da đen đã từng nổi loạn đốt phá các cửa hàng của người Hoa; chính quyền Mỹ đã từng cách ly người Nhật vào trại tập trung khi chiến tranh Nhật – Mỹ nổ ra; người Iraq bị kiểm tra lý lịch trong chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất; người da trắng dọn nhà đi chỗ khác khi những sắc dân da màu tìm đến cư ngụ; vân vân và vân vân.

Tranh châm biếm “Nồi luyện kim”, các sắc dân đến Mỹ sẽ bị đồng hóa
của Israel Zangwill
Do đó, tại Mỹ từ xưa tới nay vẫn có những thị trấn hay thành phố của từng nhóm chủng tộc. Thí dụ Chicago là thành phố đông đảo có dân Ba Lan nhất thế giới sau thủ đô Warsaw, hay người Do Thái ở New York được xem là nước Do Thái bên ngoài Do Thái. Nhà triết học gốc Do Thái Horace Kallen quả quyết rằng quan niệm “nồi luyện kim” không đứng vững cả trong lý thuyết lẫn trong thực tế. Ông viết: “Người ta có thể thay áo, đổi chính kiến, tín ngưỡng, thay vợ đổi chồng, nhưng người ta không thể thay đổi tổ tiên mình được”. Chính vì điều đó, sau này nước Mỹ cố gắng phân hóa những sắc dân trong làn sóng di dân mới như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam… nhưng thất bại. Những người di dân này tiếp tục tập trung vào những thành phố có đông người đồng hương sinh sống. Nước Mỹ chỉ là một dân tộc thống nhất trên mặt bằng chính trị và hành chánh.

Quốc huy Hoa Kỳ
Tôi đem những đoạn dẫn chứng về nguồn gốc của người di dân trên để chỉ ra một chút ý thức hệ dân tộc của ông Tony vẫn “nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn” mà mọi người di dân dù sống bất cứ nơi đâu cũng đều có tình tự quê hương giống nhau khi bất chợt trong tâm khảm xuất hiện một hình ảnh thân quen nào đó. Cái thứ tình cảm này nó cụ thể lắm. Tuổi đời con người ngày càng lớn, cái nhìn về gốc cội càng sâu. Tôi tình cờ đọc tâm bút “Hai gánh quê hương” của nhà thơ, nhà văn Trần Trung Đạo ở Boston mà thấm thía quê hương sao nặng gánh trong tâm tư của người viễn xứ. Ngay như mới đây vụ tàu cảnh sát biển Việt Nam chủ động “tấn công” bằng cách cho tàu đụng mạnh vào mạn tàu giám hải của Trung Quốc xâm nhập vùng biển Đông của Việt Nam.
Lần đầu tiên, người Việt khắp năm châu bốn bể thể hiện tinh thần dân tộc trên các diễn đàn báo viết, báo mạng hay blog cá nhân làm sôi sục khí thế “Hội nghị Diên Hồng” đấu tranh chủ quyền đất nước. Đó chính là lòng tự tôn dân tộc trước nạn xâm lấn ngoại bang. Bởi là người ai cũng có quê cha đất tổ, cũng như ông Tony không thể tự nhiên bỗng một chiều thu nhìn sông nhớ nước.
NL