Thuở nhỏ, vì loạn lạc nên gia đình tôi tản cư về quê ngoại, do đó tôi sống gần cậu hai của tôi. Cậu tôi là tín hữu Cao Đài giáo, chức sắc đến bậc Khâm Châu hay Đầu Tộc mà tôi không rành, nhưng tôi thấy cậu tôi sùng đạo lắm.

Phía trước sân nhà, cậu tôi có cất một cái am để thờ cúng theo nghi thức tôn giáo Cao Đài. Vào giờ Ngọ, vào buổi chiều tối là những lễ cúng thường nhật. Rồi vậy mà tuổi nhỏ của tôi rong chơi trên đồng, đi học, bắt dế, đá banh vân vân…, nhưng làm gì thì làm, mỗi chiều tôi đều được tắm rửa thay quần áo sạch sẽ ra chỗ cái am ngoài sân cúng lạy với cậu tôi. Nhớ nhiều lần quỳ gối lâu quá tôi bị tê chân muốn chết dù quỳ trên một chiếc gối bằng vải độn gòn. Vậy mà nghe tiếng chuông mõ, tôi đọc kinh theo cậu tôi, cùng các anh con của cậu tôi đến thuộc lòng. Như mấy câu sau này trong một bài mà tôi còn nhớ mang máng:
“Biển trần khổ chơi vơi trời nước,
Ánh Thái Dương rọi trước phương Đông.
Bổn sư Thái Thượng Đức Ông,
Ra tay cứu độ, dày công giúp đời…”
Và còn nhiều bài kinh kệ nữa, mà bây giờ lâu quá tôi không nhớ hết. Nhưng tôi nhớ thuở ấy, lần nào chiều về nghe tiếng chuông, tiếng mõ cậu tôi khai thời cúng mà tôi không cúng được là lòng tôi bồn chồn lắm, không an tâm chút nào.
Quê ngoại tôi, bà con phần lớn ăn chay niệm Phật, nên tuổi thơ của tôi cũng nhận ra ở đó những niềm vui vào những ngày lễ, ngày vía với cờ xí treo rợp con đường làng. Nào màu cờ sắc dà của đạo Phật Giáo Hòa-Hảo, cờ ba màu của đạo Cao Đài, cờ phướn của chùa chiền, thánh thất và có cả cờ của đạo Thiên Chúa Giáo nữa, cùng quốc kỳ treo rợp trời. Mặc dù sau này lớn lên tôi quy y theo Phật Giáo với pháp danh Minh Nguyện do Thượng Tọa Thích Tắc Phước đặt cho tôi, nhưng lòng tôi vẫn tôn thờ những bài kinh Cao Đài mà tôi đọc mỗi ngày trong những thời cúng ngọ, cúng chiều với cậu tôi thuở ấu thơ.
Bây giờ ngồi nhớ lại, tôi thấy trước mặt con đường đi học của tôi qua đi hai mùa mưa nắng hằng năm. Tôi quen từng con dốc, từng cua quẹo đến dấu chân trâu. Tôi nhớ từng hàng xoan, bụi tre, bụi trúc. Tôi mang vào giấc mơ những chiều bắt dế, thả diều, đá banh, u hấp… Tôi thèm từng trái nhãn lồng chín vàng, những trái thù lù đỏ ửng. Tôi ghiền nhìn những chị nhồng, chị cưởng tha cỏ, tha rơm làm ổ trên đọt thốt nốt vào những ngày xây tổ uyên ương. Tôi háo hức cất những ổ chim dồng dộc vào trong giấc ngủ. Tôi nhớ những làn khói thơm thơm mùi rạ cháy từ cánh đồng xa lướt qua tuổi nhỏ. Tôi không làm sao quên nổi những bông mận, bông lê chạy xoay vòng thành trái vụ. Tôi nghe văng vẳng tiếng ve sầu gọi hè bên hiên hàng xóm. Tôi thấp thoáng thấy hàng thốt nốt nghiêng nghiêng cợt đùa trong tiếng gió lao xao… Tôi mơ cả tiếng tu hú bằng đất sét như mùa Tết Nguyên Đán về trên những luống dưa hấu, luống rẫy, luống cà, vườn cam, vườn quít. Tôi thương các anh, các chị tôi hy sinh đời mình lo lắng cho em út được lớn khôn. Tôi nhớ cả cô Phán cứu tôi khỏi chết chìm trên dòng nước đục ngầu. Tôi nhớ cậu tôi với những thời cúng cùng tiếng chuông mõ, lời kinh thật hiền hòa… Và cả thầy giáo của tôi nữa, thầy Cầm, thầy Trang, thầy Ngân, thầy Nhì, thầy Lưỡng, thầy Chánh, những ân nhân đã mở cho tâm trí ngu muội của tôi bằng những chữ vỡ lòng khi tôi mới bập bẹ a, b. Làm sao mà tôi có thể quên ơn các thầy của tôi được tuy các Người nay không còn nữa dù xa rồi mấy mươi năm!
Vượt lên trên tất cả, tôi nhớ công ơn sanh thành dưỡng dục vô bờ bến của cha mẹ tôi. Tôi nhớ gói cơm bằng mo cau mà mẹ tôi cụ bị. Tôi nhớ khứa cá mà mẹ tôi kho tiêu cay cay thơm phức ngày nào! Ngay cả những lần tôi nhõng nhẽo đòi nghỉ học, mẹ tôi cũng chiều con xin phép thầy giáo cho con mình vắng mặt. Lúc bấy giờ tôi đâu biết nghỉ học một ngày là gián đoạn việc học một ngày. Còn tía tôi cũng cưng con, muốn tôi đi học xa phải biết bơi, biết lội, nếu không lại té sông chết chìm, rồi ngày nào tía tôi cũng tập lội cho tôi hì hụp dưới sông. Hồi ấy, tôi bị mấy con chuồn chuồn cắn rún đau điếng vì nghe đâu muốn biết lội cho chuồn chuồn cắn rún là lội được. Tía tôi cũng làm cho tôi một tấm bảng đen sơn bằng dầu hắc để tôi mang theo trong cặp. Còn một ảng nước mưa đựng những con cá lia thia với mấy cánh bèo tai tượng nổi trên mặt nước, mà mỗi lần đi học về, tôi chưa kịp cất tập vở là chạy ngay lại lu nước kiếm vài con trùn chỉ làm thức ăn cho cá. Tía tôi thấy con mình thích cá lia thia, rồi không nỡ rầy. Còn nhiều lắm, biết bao điều đáng nhớ nữa. Chính vì sự ấp ủ, cưng thương, trìu mến của cha mẹ nên tôi mới có những ngày thơ ấu đến dễ thương như vậy. Càng nhớ tưởng càng se thắt lòng, đau từng đoạn ruột khi song thân mình nay đã ra người thiên cổ từ bao năm rồi!
Nếu tôi có được chiếc đèn thần hoặc chiếc nhẫn thần như câu chuyện cổ tích mà thầy giáo lớp Nhì của tôi kể năm xưa, tôi chỉ xin các vị thần Đèn, thần Nhẫn cho tôi được thêm một lần ấu thơ với những ngày đi học ở trường làng cũ qua những con đường mòn có nắng, có chim, có hoa, có khói đốt đồng, có cả hàng thốt nốt cùng những ngày ngập lụt, có cơm gói mo cau với cá kho của mẹ, có tấm bảng đen nho nhỏ của cha và có cả những con chuồn chuồn cắn rún để biết lội cùng một bầy cá lia thia tung tăng dưới những cánh bèo tai tượng ngày nào…
Ôi, thương biết mấy tuổi thơ hồn nhiên, trong lành của tôi nay đã xa rồi, xa lắm, hơn năm mươi năm!!!
LTT
(Trích trong quyển sách đầu tay Bến Bờ Còn Lại)