Menu Close

Mình ơi…

“Bu ơi, bu có nghe con nói gì không? Con đã liên lạc với thầy rồi, thế nào thầy cũng ra với bu, bu ạ! Bu ơi, bu có sao không? Bu thở đều hộ con, cố lên bu ạ, cố thở đều, thầy sắp ra bu ạ.”

Bà Lạc lờ mờ nghe tiếng con. Bà trở mình, cố nằm nghiêng, ấp phần ngực phải xuống giường cho dễ thở. Bà đang chập chờn giữa hai thế giới thực và ảo. Bà nhớ hình như bà đang ngồi bên bờ ao chờ người ấy. Lời hẹn vẫn lẩn khuất trong gió: “Tôi chờ mình ở bờ ao, mình ra nhé!” Rồi bà lại nhớ mấy chục năm trước, cái bận vào Nam sau năm 1975, những giọt nước mắt lại thi nhau tràn ra khoé mắt, chảy ngoằn ngoèo theo những rãnh xếp trên khuôn mặt hằn nếp thời gian.

alt

Thục vội đỡ mẹ ngồi dậy, rối rít gọi em:

– Đoan ơi, bu tỉnh rồi! bu tỉnh rồi!

Đoan từ bếp chạy lên, tay bưng bát cháo hoa, giọng dỗ dành:

– Bu ăn tí cháo lấy sức bu ạ. Mấy hôm nay bu cứ nửa tỉnh nửa mê, lại khó thở, chúng con lo quá!

Bà Lạc cố mở mắt, định thần, bà đã trở về với thực tại, đời sống của bà là đây: là ngôi nhà xưa cũ, tường vôi loang lổ, rèm cửa màu xanh lơ từ mấy chục năm trước, nay đã ố vàng; là chiếc giường đơn với chiếu chăn tẩm mùi mồ hôi và dầu nóng; là hai con gái đã ra riêng cùng đám cháu ngoại hằng ngày vẫn thay phiên ghé thăm bà. Hàng xóm bảo bà có phúc!

Bà không nhớ mình đã bị ốm từ bao giờ, bà nhớ khoảng một hai tuần trước, Thục, con gái lớn của bà tất tả chạy sang báo tin: “Bu ơi, hình như thầy ra Hà Nội bu ạ!” Rồi Thục thu dọn nhà cửa, đẩy cái bàn vuông và hai chiếc ghế đẩu vào góc nhà, rồi lại kéo ra giữa nhà, cứ loay hoay trong cái phòng bé tí vỏn vẹn mỗi chiều 3 thước được gọi là phòng khách. Nghe con báo tin, bất chợt bà cũng hối hả, loanh quanh trong nhà không biết làm gì. Hàng trăm câu hỏi chen chúc trong đầu bà: “Người ấy ra Hà Nội có việc gì không? Có liên quan đến mình không? Người ấy có sẽ đi qua ngôi nhà này không? Có sẽ dừng lại không?” Mắt sũng nước, bà lại nghĩ: “Tại sao mình lại nghĩ vớ vẩn thế này? Họ có màng gì đến mình đâu? Họ bỏ mấy mẹ con từ ngày cái Thục, cái Đoan còn bé dại cơ mà!”

Những ngày kế tiếp, căn phòng khách cũ kỹ nhỏ bé của bà như ấm áp, tươi tắn hẳn lên với rổ quýt vàng ối, và lọ hoa vạn thọ trên bàn. Cứ đến cuối ngày, Thục và Đoan ghé thăm mẹ với những háo hức huyền bí, khiến không khí trong nhà dao động khác thường. Ba mẹ con không ai bảo ai, nhưng cả ba đều mong, đều chờ.

Hai tuần lễ trôi qua với những cái bóng xuôi ngược như con thoi của Thục và Đoan. Hết chạy sang bên Nội lại chạy về bên mẹ báo tin: “Thầy đã xuống máy bay, đã về đến nhà, đang ở bên bác Cả, bu ạ”; “Hôm nay Thầy đi thăm mộ ông bà Nội, hình như ngày mai sẽ ghé bên Ngoại!”; “Hôm qua Thầy bị cảm nắng nên không ghé bên Ngoại được, hôm nay Thầy sang Hải Dương thăm gia đình mợ Soan, hôm sau sẽ đi Đồ Sơn và sau đó thế nào cũng thăm bên Ngoại, bu ạ!”; “Bu ơi, đến Đồ Sơn, thầy bị cảm lạnh, nên phải về ngay, thầy đang nghỉ ngơi bên bác Cả, thế nào Thầy cũng sang bên Ngoại”; “Đến là khổ, có điện thoại trong Nam gọi thầy vào gấp vì mợ Soan không được khoẻ, thầy mới ra phi trường ban sáng, bu ạ”.

Bà nhớ rồi, hai tuần lễ chờ đợi, hai tuần lễ bấu víu vào chút nghĩa cũ càng và rất mong manh. Bà đã ngã quỵ khi nghe người ấy rời Hà Nội. Bà đã mê sảng chơi vơi trong quá khứ. Bà cố ngồi dậy, mái tóc bạc, dài và mỏng sổ tung trên vai gầy, vài sợi lòa xoà trên mặt khiến bà tiều tụy hơn. Nước mắt vẫn tuôn, bà nhìn con nức nở: “Các con mặc bu!”. Thục và Đoan quanh quẩn bên mẹ an ủi: “Bu húp tí cháo cho tỉnh, thầy chưa thăm mộ bên Ngoại, nay mai thế nào thầy cũng ra Hà Nội bu ạ, chúng con đã điện cho thầy, bảo là bu ốm nặng.” Tiếng hai con văng vẳng bên tai, nhưng bà Lạc đã lại chìm sâu vào quá khứ.

o 0 o

Hai năm sau ngày miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, bà nhận được lá thư đầu tiên của thím Châu, người em dâu bên chồng, từ Saigon gửi ra cho biết đại gia đình trong ấy vẫn bình yên và mời bà vào thăm miền Nam. Bà nhớ khoảng năm 50, 51, khi thím Châu về làm dâu bên làng Sồng, gặp mùa Đông giá rét, lại phải dậy sớm nấu cơm, gánh ra đồng cho tá điền, lọng cọng thế nào mà ngã sõng soài, bong cả gân. Bà đã phải xoa bóp dầu cả tháng mới đi đứng được. Tình cảm thân thiết nảy nở, hai người quấn quýt chia sẻ buồn vui như chị em ruột, cho đến ngày thím Châu vào Nam năm 54.

Thư đi thư lại, thím Châu biếu bà vé tàu vào Nam. Suốt gần ba ngày trên chuyến xe lửa Bắc Nam, tâm trí bà đã không có một phút thảnh thơi. Bà cố nghĩ đến một thế giới khác ngoài Hà Nội, cố nghĩ đến thím Châu, đến các cháu, nhưng hình bóng người ấy với hàng ngàn điều có thể và không thể xảy ra đã bao vây bà.

Bà nhớ khi chuyến xe lửa đen kịt những người vừa đến ga Sài Gòn, mọi người chen lấn nhau để xuống, bà bị đẩy bẹp gí vào thành xe, phải một lúc lâu, người thưa ra, bà mới đến được cửa và bước xuống. Con tàu, sân ga, người ngóng trông, khiến bà cảm thấy như đang giẫm vào dấu chân người thiếu phụ 20 tuổi thấp thỏm đợi chồng ở ga Hàng Cỏ 25 năm về trước. Tim bà lại đập thình thịch vì ao ước người ấy sẽ đứng đâu đó trên sân ga chờ bà. Nỗi thất vọng được giấu kín, khi bà thấy đơn độc một tà áo dài tím chạy về phía bà. Nước mắt hội ngộ trào ra cuốn theo những tủi thân chua xót, bà khóc vùi trong vòng tay ôm của người em dâu bên chồng.

Ở nhà vợ chồng chú thím Châu được ba bốn hôm, chú Châu bảo bà: “Chị ạ, nhà em sẽ làm một bữa cơm đãi chị và mời anh ấy sang”. Bà cố trấn tĩnh, nhưng tim bà chợt rộn ràng, từng nhịp, từng nhịp reo vui rối rít gọi nhau, khiến bà ngộp thở. Bà lẩm bẩm một mình: “Mình ơi, mình sẽ sang ư?”

Mâm cơm đã nguội, khách vẫn chưa sang. “Đừng buồn chị ạ, anh ấy đã xa chị và các cháu hơn 20 năm nay rồi, anh ấy và chị Soan đã có thêm sáu cháu nữa rồi, chị biết đấy sáu gái, hai trai. Tất cả đã yên phận, em nghĩ bây giờ gặp lại chị chắc là anh ấy ngại”. Tiếng thím Châu đều đều bên tai bà. Bà đã nhủ lòng thôi, đừng nghĩ đến, đừng mong đợi, nhưng hình như đôi mắt bà đã phơi bày hết cả tâm can. Mọi người lặng lẽ quanh mâm cơm. Một lát thím Châu lại nói: “Chị dùng cơm đi, em nghĩ có lẽ anh ấy sẽ sang sau bữa chị ạ!”. Tim bà lại hồi sinh: “Mình ơi, có đúng như vậy không?”

Bữa cơm đã xong. Ấm trà đã vơi, đã nguội. Phong kẹo lạc bà đem từ Hà Nội vào cũng đã hết quá nửa. Không có tiếng gõ cửa. Không có tiếng mở cửa. Không có tiếng chân bước vào. Không có ánh mắt năm ấy.

Đêm thật khuya, chợt có tiếng chân khua trên đường, dần dần rõ hơn và dừng trước cổng, thím Châu đứng bật dậy: “Chắc là anh sang!” Có tiếng then cài cổng sắt được kéo nhè nhẹ, hình như một người vừa lách vào, có tiếng thím Châu: “Anh ạ!”. Bà muốn đứng dậy, nhưng chân bà như bị chôn dưới nền đá hoa, bà cúi vội xuống khi người đàn ông bước vào: “Chú thím vẫn còn thức à?”, “Vâng, chị và chúng em chờ anh, chẳng mấy khi chị vào được trong này”. Thím Châu vừa rót trà vào tách vừa nói tiếp: “Chị mong anh từ mấy hôm nay!” Bà ngồi rũ rượi im lìm như pho tượng. Mọi người lặng thinh. Bà cảm thấy ánh mắt năm xưa đậu trên tóc bà, trên đôi tay đang run rẩy lạnh ngắt của bà. Có tiếng xê dịch về phía bà, người đàn ông hơi cúi xuống nắm tay bà, vuốt tóc bà, nâng cằm bà lên, đôi mắt thăm thẳm thân thiết nhìn bà: “Mình tha lỗi cho tôi, tôi sẽ ra Bắc thăm bên Ngoại, thăm mình và hai con!”. Đôi bàn tay nới lỏng. Tiếng chân đi ra cửa và mất hút trong đêm. Không khí trong nhà chợt nặng nề, thím Châu bực dọc: “Tại sao anh ấy lại hẹn chị ở mãi tận ngoài Bắc? Chị đã vào được đến đây, vợ chồng hàn huyên đôi câu, chả nhẽ không được sao? Chị Soan biết thì đã sao? Ngày mai chúng em sẽ dắt chị sang bên anh chị ấy, cứ đường hoàng thăm hỏi nhau xem sao. Chị đã chịu khổ cực nuôi con hơn 20 năm rồi, bây giờ đến lượt anh ấy phải chăm sóc chị chứ. Chị chẳng có gì phải ngại hay sợ cả”. Tiếng chú Châu cũng đanh lại: “Chị là dâu lớn trong gia đình, cứ theo tôn ti phép tắc mà xử sự.” Bà khóc nức nở vì cảm kích tình thương của gia đình người em chồng dành cho bà, nhưng trong sâu thẳm, bà đã khóc vì người ấy vẫn còn nhớ đến bà. Bà sẽ chờ. Bà sẽ trở về Hà Nội. Hạnh phúc này sẽ giúp bà sống tiếp quãng đời còn lại.

o 0 o

Bà Lạc chợt nghe tiếng Đoan: “Bu ơi, bu thấy trong người thế nào?” Bà nhìn con thều thào: “Cho bu tách nước”. Thục và Đoan cùng đổ xô xuống bếp và nói: “Vâng, bu cố mở mắt bu nhá!”. Có tiếng gõ cửa. Tim bà như muốn thoát khỏi lồng ngực. Thục chạy vội lên, hổn hển lắp bắp: “Chắc thầy ra đấy bu ạ”. Cửa mở, một bóng người bước vào, vất túi xách trên chiếc bàn vuông, khẽ khàng ngồi xuống mép giường, ôm bà. Đôi tay bà buông thõng như không dám chạm vào hạnh phúc. Bà nghe mơ hồ tiếng người ấy: “Mình ơi, anh đây, anh ra với mình đây!”. Bà chợt thấy ánh mắt thảng thốt lay gọi bà, bà thấy các con bao quanh bà, xoa dầu vào mũi bà, cái Đoan gào lên: “Bu ơi, bu ơi”. Người ấy ôm bà thật chặt khiến bà hoảng hốt, đúng thực người ấy đã về, bà rùng mình, cảm thấy hơi ấm bao quanh bà. Tim bà đập rộn ràng. Thục hét lên: “Thầy ơi, bu tỉnh rồi!”.

Bà cảm thấy vòng tay siết chặt hơn với tiếng thì thầm đứt quãng: “Mình ơi, tỉnh lại đi, anh về với mình đây! Anh của mình đây!”

PDH
(03/12)