Nguyễn Thụy Long sinh năm 1938 tại Hà Nội và là tác giả của nhiều cuốn truyện ngắn và tiểu thuyết nổi tiếng như: Vác Ngà Voi, Loan Mắt Nhung (từng được dựng thành phim), Chim Trên Ngọn Khô.., Ngoài ra, còn có Vết Thù, Bà Chúa Tám Cửa Ngục, Kinh Nước Đen, Thuở Mơ Làm Văn Sỹ, Viết Trên “Gác Bút”, Mả Động (di cảo). Trong khoảng 30 tác phẩm được xuất bản trước năm 1975 của ông, có chừng 20 tác phẩm hiện được lưu tại thư viện của Viện Đại Học Cornell, New York.
Nguyễn Thụy Long
Nhà văn Nguyễn Thụy Long qua đời tại Việt Nam ngày 03 tháng 9. 2009.
Về cuốn hồi ký ‘Thuở Mơ Làm Văn Sĩ”
Kể chuyện đời cầm bút chật vật thì chắc hiếm ai có thể tự cho đời mình chật vật hơn Nguyễn Thụy Long. Khi còn học trung học, một truyện ngắn được tuyển đăng trên báo, và ông chú đã cho một trận đòn nhớ đời. Ông chú nói giọng buồn bã:
“Làm văn sĩ không phải là chuyện gì xấu xa, nhưng đời nghệ sĩ khổ lắm con ơi, nhất là nghệ sĩ ở đất nước mình …. Con không thấy bao nhiêu văn nghệ sĩ ở đất nước mình than thân trách phận đó sao? ….
Vậy mà Nguyễn Thụy Long cũng trở thành nhà văn. Cũng chứng tỏ rằng tuy là “yêu cho roi cho vọt” nhưng một khi đứa trẻ đã muốn làm cái gì rồi, thì roi vọt cách mấy cũng chẳng ngăn cản được.
Ông viết báo, viết tiểu thuyết, với những tác phẩm nổi tiếng. Truyện “Loan Mắt Nhung” được dựng thành phim.
Trong đời mơ làm văn sĩ ấy, tác giả đã gặp nhiều gương mặt văn nhân sáng giá của một thời và là nhân chứng cho nhiều sự kiện lịch sử. Đến cái khám Chí Hòa ai cũng biết tiếng, ông đã vào nằm đó cả một năm. Ông là một loại “người trong cuộc” theo đúng nghĩa của chữ đó.
Sau 1975, sách Nguyễn Thụy Long bị cấm, bị đốt. Gia đình ông tan tác. Ông đi tù. Rồi lại về, nhưng không được xuất bản nữa. Tên ông vào sổ đen, có thời gian sau đổi mới ông viết báo kiếm tiền, nhưng phải dùng tên giả.
“Thuở Mơ Làm Văn Sĩ” là tác phẩm ông viết trong lúc lâm bệnh, giữa những cơn thổ huyết. Sách không được in trong nước, ông gửi bản thảo cho bạn bè, rồi người ta in ở Mỹ. Một quyển sách khác của ông, “Hồi Ký Viết Trên Gác Bút”, cũng đã được xuất bản theo kiểu này.
Tựa cuốn “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ”
Năm 1950. Ở Hà Nội, tôi 10 tuổi, mới đậu xong bằng tiểu học, sửa soạn thi vào lớp đệ thất (lớp 6 bây giờ) trường trung học Chu Văn An. Nghĩa là sẽ trở thành học sinh trường Bưởi danh tiếng xưa kia đấy. Nhưng là tuổi ăn tuổi chơi. Ba tháng hè, tôi tham gia tất cả những trò chơi trẻ con ở Hà Nội. Đánh đinh, đánh đáo, sưu tầm programes ở những rạp chiếu phim, xem ciné và đọc truyện.
Có lẽ thứ mà tôi đam mê nhất là đọc truyện. Tôi đọc lung tung đủ thứ truyện, từ truyện kiếm hiệp đến mọi loại tiểu thuyết, in thành từng tập mỏng phát hành mỗi tuần mà cha tôi gọi là tiểu thuyết ba xu. Gom góp từng tập mỏng ấy để đóng lại thành pho sách dầy. Những truyện đăng trên báo tôi cũng cắt đóng lại thành từng tập. Không kể việc sưu tầm từng cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn mà tôi rất ngưỡng mộ. Tất cả những cuốn sách cũ, đôi khi nát phải tự phục chế. Lý do đơn giản là tôi không có tiền để mua những cuốn tiểu thuyết mới tinh còn thơm mùi mực in.
Tôi ngưỡng mộ biết bao nhiêu tác giả. Mơ ước ngày nào đó mình được như họ. Tôi mê đến độ, có thể đọc tiểu thuyết bất cứ lúc nào không phải chỉ ở những ngày rảnh rỗi. Thường xúc động về tình huống số phận của các nhân vật. Mùa rét nằm trong chăn bông đọc tiểu thuyết. Tôi nhớ đọc cuốn “ Người anh cả “ của Lê Văn Trương, tôi cũng là anh cả trong gia đình nhỏ bé của mình, thế là tôi xúc động. Chui vào trong chăn khóc thỏa thích. Khóc sưng cả mắt, vì thương thân phận người anh cả trong tiểu thuyết đó quá. Sau này, và đến bây giờ tôi vẫn thường mủi lòng trước những hoàn cảnh, có thể trong tiểu thuyết, đời thật hay phim ảnh. Nếu bạn bè tôi có nhận xét về tôi : Trông con người nó hung hãn như vậy, nhưng tâm hồn thì yếu đuối.
Thuở bé xem phim Charlot. Phim The Kid ( dịch ra tiếng Việt là Gà trống nuôi con ) khi Charlot lạc mất đứa con nuôi, Charlot buồn ngẩn người ra. Tôi cũng chảy nước mắt. Còn nhiều, rất nhiều tình huống khác, trong tiểu thuyết hay trong phim ảnh làm cho tôi mủi lòng, đến rơi lệ.
Bìa sách “Thuở Mơ Làm Văn Sĩ”
Không biết đó có phải là con đường gai góc mà tôi đã chọn khi cầm bút không ? Khi ở Hà Nội, tôi trao lại cho thằng em họ tủ sách. Ra đi nhưng vẫn thăm hỏi về những cuốn tiểu thuyết. Sau năm 1954 thì viết bưu thiếp, cho đến lúc bặt tin. Rồi nhiều chục năm qua….tôi trở thành nhà báo, nhà văn……Cũng là một đời lỡ mà thôi. Nhưng tôi hãnh diện làm sao khi chọn nghề cầm bút.
Sau năm 1975. Miền Nam bại trận, người chiến thắng vào thành phố. Những cuốn sách in ấn phát hành ở miền Nam bị kết tội phản động, bèn được đem ra thiêu đốt. Tôi đứng nhìn tro tàn khói bay, cầu xin cho nó được phiêu diêu miền cực lạc. Tôi cũng đã chứng kiến nhiều tác giả khóc những cuốn sách trên đống tro tàn. Người buôn bán sách, nhưng suốt một đời yêu quý sách, nên làm sách, in ấn sách, đứng ngẩn như người mất hồn trước nhà sách, mà chính là kho sách vĩ đại của mình ở đại lộ Lê Lợi. Nhà sách Khai Trí nay đã đổi tên chủ.
Tôi muốn nói ông Khai Trí, Nguyễn Hùng Trương. Một đời ông dành cho những cuốn sách, không phải mình là tác giả mà của nhiều người khác. Ông có cái đam mê của ông, đam mê đến cuối đời. Mấy ai đã được sống đến trăm tuổi, nay tuổi ông Khai Trí đã 80. Hơn nửa đời người kinh doanh sách, nhưng không thể gọi ông từ hạ đẳng là “đầu nậu sách”. Như có lần sau khi nhà sách Khai Trí tịch biên, tôi đã nghe lời miệt thị ấy của một nhà văn muốn lập công. Ví như loài cỏ “đuôi chó” mà ông Phan Khôi đã viết hồi nào trong Nhân Văn Giai Phẩm. Tôi nói ít ai thọ được trăm tuổi. Học giả Vương Hồng Sển đã là thọ mà chỉ sống được 94 tuổi. Không như điều mơ ước của cụ, thọ tròn một thế kỷ để nhìn cho rõ hơn “nhân tình thế thái”. Năm ngoái, tôi gặp Học giả Giản Chi. Cụ đã 94. Người yếu lắm rồi, cụ đi phải có người dìu. Nhưng tôi nghe nói cụ vẫn đọc sách, vẫn nghiên cứu. Cụ đọc sách bằng kính lúp soi trên trang giấy. Đáng quý lắm sao.
Cách nay một năm tôi gặp ông Khai Trí trong bữa giỗ ông Chu Tử. Tôi hỏi ông rằng cái nhà sách Khai Trí của ông ở đường Lê Lợi ông đã xin lại được chưa? Sau khi ông từ Mỹ về và đã hồi tịch trở lại người Việt Nam. Ông cười và trả lời:
– Sẽ xin lại được, thời hạn trả lại là năm 3000.
Tôi chưa lẩm cẩm đến độ không hiểu nổi câu trả lời ấy là lời chua chát của một người kiên tâm với cái nghiệp của mình nay đã quá chán nản.
Câu chuyện văn nghệ vòng vòng, tôi nhắc đến một bài mới đây viết trên báo chí nhắc ông Khai Trí, có người nhà văn, cũng ông đó, đã hết lòng ca tụng sự hào sảng của ông chủ nhà sách danh tiếng. Ông Khai Trí đã chậm rãi trả lời:
– Tôi biết anh đó, khi tôi ngồi ở Chí Hoà anh ta đi với phái đoàn vào thăm tù. Anh từng biết tôi, nhưng hôm ấy anh ta nhìn tôi như nhìn những người tù khác chưa hề quen biết. Vì khi đó tất cả chúng ta đều là kẻ ngã ngựa, bị kết án…
Tôi thoáng nhìn thấy nụ cười ruồi của ông Khai Trí :
– Nhắc lại làm chi không biết nữa.
Đúng vậy, nhắc lại làm chi, nói theo thổ ngữ Nam Kỳ.
Tôi suy nghĩ hoài về câu nói ấy. Một câu nói thoáng nghe thì tầm thường, nhưng suy nghĩ thì nó đòi hỏi ở người cầm bút thật nhiều đấy. Tuổi đời, kinh nghiệm đời không chưa đủ, còn đòi người cầm bút có một điều kiện khác. Có xứng đáng để cầm bút mà viết không?
Đã rất nhiều đêm tôi ngồi trên căn gác bút suy nghĩ. Nên cầm lại cây bút hoặc không nên. Cuối cùng thì tôi đã có quyết định. Bây giờ thì dĩ vãng dồn dậy trong tôi.
Trước đây tôi đã viết dang dở tập hồi ký “thuở mơ làm văn sĩ” ở một tuần báo thiếu nhi trước năm 75. Sau đó tôi viết lại, những mong “đăng báo” được. Nhưng bị đánh giá thấp qua biên tập. Tập hồi ký chẳng ca tụng được cái gì. Chỉ ca tụng một giấc mơ, giấc mơ của một kẻ mơ làm văn sĩ. Tôi đành gác bút…
Gần nửa đời người làm việc cầm bút. Đến nay không giữ được quyển sách nào của mình viết ra. Trận hỏa tai năm 75, không phải riêng tôi bị thiệt hại mà nhiều bạn bè đồng nghiệp của tôi cũng cùng chung số phận và còn trở thành tội phạm, bị đem ra trưng bày tại phòng trưng bày “tội ác Mỹ Ngụy”. Nhiều năm dài những cuốn sách của tôi, của chúng tôi bị cầm tù. Tôi không có tiền, lộ phí, không có giấy tờ tùy thân đàng hoàng. Đến bây giờ tôi cũng không đi. Phải chăng tôi muốn giữ mãi hình ảnh của Hà Nội, của những con đường những tỉnh miền Bắc tôi đã đi qua nguyên vẹn như thuở nào? Tôi không trả lời của chính câu hỏi mình tự đặt ra.
Tôi như nhìn thấy mình thuở mới bước qua tuổi trẻ thơ mang ước mơ mình trở thành văn sĩ. Ôi giấc mơ mới đẹp và ngọt ngào làm sao. Đến bây giờ cũng vậy, tôi không coi giấc mơ đó là oan nghiệt hay nghiệp chướng phũ phàng.
Muỗi đêm nay sao ra nhiều thế, nó cắn tôi nhoi nhói. Không biết có con muỗi nào mang mầm bệnh không? Nếu có chắc chắn là nó truyền cho tôi căn bệnh nào đó ác tính chứ không phải mãn tính. Muỗi Sài Gòn từng có tiếng cắn đau từ xưa. Tôi nhớ thuở ở Hà Nội, có một ký giả chuyên viết film du jour trên nhật báo lấy bút hiệu là Muỗi Sài Gòn.
Tôi sống với giấc mơ đẹp của tôi. Một đoạn ngắn thôi “Thuở mơ làm văn sĩ”. Xin mời bước vào tập hồi ký này.