Họ là hai gương mặt sáng chói nhất của văn học Argentina thế kỷ 20. Họ đều đặt dấu ấn kỳ ảo đặc trưng cho văn học Nam Mỹ nửa sau thế kỷ 20 vào văn học thế giới. Nhưng họ không thể khác nhau hơn: Julio Florencio Cortázar (1914-1984) và người đồng nghiệp nổi tiếng hơn ông 15 tuổi, từng ảnh hưởng mạnh đến ông, Jorge Luis Borges (1899-1986).
Borges, lừng danh là một nhà văn đặc tuyển uyên bác, gần như trọn đời sống tại Argentina, giữ chức Giám đốc Thư viện Quốc gia và giảng dạy tại Đại học Buenos Aires nhiều thập niên, nhận nhiều giải thưởng văn chương quốc gia và quốc tế, dự nhiều lễ tiệc với các chính khách Nam Mỹ, trong đó có cả những nhà độc tài khét tiếng như Videla và Pinochet, và không giấu thái độ thù ghét chủ nghĩa cộng sản của mình.
Cortázar rời bỏ Argentina dưới thời Perón từ năm 1951, sống lưu vong tại Pháp cho đến cuối đời và không ngần ngại dấn thân cho những hoạt động chính trị xã hội khuynh tả tại Nam Mỹ, trong đó có việc ủng hộ Cách mạng Cuba hay giúp đỡ những nạn nhân của Videla và Pinochet.
Chúng tôi xin giới thiệu sau đây một tiểu luận của Cortázar về nhà văn lưu vong, từ kinh nghiệm của bản thân, qua bản dịch của Trần Vũ.
Phạm Thị Hoài Talawas blog
Ðối với kẻ trí thức, vượt lên những tiêu cực trong đời sống lưu vong không chỉ là việc có thể làm mà là việc bắt buộc phải làm. Chấp nhận luật chơi do đối phương áp đặt là cho họ chiến thắng gấp đôi: Loại trừ được sự hiện diện thể xác và tiêu diệt luôn cả đời sống tinh thần của kẻ đối lập qua những công trình nghệ thuật, khoa học, văn chương.
Và nếu kẻ lưu vong quyết định nhìn sự lưu vong của mình một cách tích cực? Tuy biết mình đang trượt trên con dốc nguy hiểm của nghịch lý, tôi tin chọn lựa này tương đương với sự chấp nhận thực tế tuyệt đối có giá trị. Vì vậy tôi gióng lời kêu gọi cách nhìn thích đáng này, dựa trên tính khôi hài, cùng tính khôi hài mà suốt chiều dài lịch sử đã cho phép truyền tải những ý tưởng và hoạt động thực tiễn, mà nếu thiếu, có vẻ rồ dại hay hoang tưởng.
Tôi dựa một lần nữa vào kinh nghiệm cá nhân: Sự lưu đày vì lý do văn hoá vừa qua, tuy đã chặt đứt chiếc cầu nối tôi với đồng bào trong tư cách người đọc và phê bình, đã không gây tổn thất gì cho cá nhân tôi. Nếu những kẻ cấm tôi về nước tự cho đã hoàn thành việc lưu đày một nhà văn, họ hoàn toàn nhầm lẫn.
Thực ra, họ đã cấp cho tôi một học bổng toàn phần, để tôi hiến dâng hơn bao giờ hết cho trước tác, vì sự đánh trả của tôi vào nền độc tài văn hóa này, tôi đang và sẽ nhân lên gấp bội những nỗ lực của mình bên cạnh tất cả những ai tranh đấu cho công cuộc giải thoát nước tôi. Lưu vong, đúng. Và dứt khoát.
Nhà văn lưu vong, chắc chắn, nhưng đặt dấu nhấn trên “nhà văn”.
Những nền độc tài Nam Mỹ không có nhà văn, chỉ có phường thư lại: chúng ta đừng trở thành những phường thư lại đầy cay đắng, oán giận và buồn bã này.
Thay vì tự thương hại, tốt nhất là hãy khẳng định – dù nghe có vẻ điên rồ – rằng những kẻ lưu vong đích thực chính là những chế độ độc tài trên lục địa của chúng ta, lưu vong vì cách ly khỏi hiện trạng xác thực của đất nước, của công bằng xã hội, khỏi niềm vui và hoà bình.
Về sự điên rồ: cũng như sự khôi hài, nó tượng trưng một cách phá vỡ những khuôn sáo và mở ra một con đường tích cực, con đường này không hiện ra nếu chúng ta tiếp tục gập mình dưới những quy luật phải đạo và lãnh cảm của kẻ thù.
Ðừng quên rằng kẻ “rồ” Hamlet cuối cùng đã thắng hệ thống chuyên chính kềm hãm xứ Ðan Mạch.
Loại tấn công bằng trí tuệ này đòi hỏi phải có trí tưởng tượng, sáng kiến, óc hài hước, thậm chí cả một chút rồ dại nữa, nhưng công hiệu gấp đôi: nếu công trình trí tuệ của những người lưu vong mở ra một con đường trên quê hương (việc này có thể làm được, dù chỉ đến với một số nhỏ, qua những lối riêng), nó còn có tác động trong quốc gia tiếp cư và góp phần gia phát sự tương trợ của dân bản xứ với công cuộc tranh đấu của chúng ta.
Nhưng để thực hiện trận tấn công này, chúng ta phải dứt bỏ những gì quen thuộc liên hệ đến chữ lưu vong và trở về với chính mình, mỗi người tự nhận dạng lại mình, nhìn mình là một người mới. Sự chấp nhận thực tế mà tôi vừa đề cập chỉ có thể xảy ra thông qua sự tự phê để xé toạc những bức màn che khiến chúng ta mù quáng.
Tất cả những nhà văn thành thật đều thừa nhận là việc bị trục xuất ra khỏi xứ sở dẫn đến tiến trình tự duyệt. Sự xét lại bản thân bắt buộc và tàn nhẫn này có cùng những tác dụng giống như “Chuyến du lịch Âu châu” nổi tiếng của cha ông chúng ta.
Ðương nhiên, chọn lựa này đã là tự nguyện và thú vị – chính vì ảo ảnh của Âu châu như một chất xúc tác cho những sức mạnh ngầm và tài năng vẫn còn phôi thai. Chuyến du hành đưa một nhà văn Chí Lợi hay Á Căn Ðình sang Ba Lê, La Mã, hay Luân Ðôn đã khai sáng, rồi từ đó chúng ta mới được phong tước hiệp sĩ, được uống chén thánh của tri thức Tây phương.
May mắn thay, chúng ta càng lúc càng vượt qua thái độ của những người bị thuộc địa hoá về tinh thần, thái độ này có thể hợp lý ở những thời buổi khác, nhưng trở nên lỗi thời với tính phổ biến văn hóa được cung cấp bởi các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các phương tiện thông tin chuyên sâu.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại một sự tương đồng giữa chuyến du hành văn hóa kỳ thú thuở xưa với sự trục xuất nghiệt ngã của lưu vong: Khả năng của chính sự tự duyệt xét từ vị thế một nhà văn bị bứng ra khỏi môi trường của hắn.
Vấn đề không còn là học hỏi từ Âu châu, mà là tự nghiêng mình xuống chính chúng ta ở vị trí của những cá nhân thuộc về một sắc tộc Mỹ La-tinh và tìm giải đáp vì sao chúng ta đã thất bại, vì sao chúng ta phải lưu vong, vì sao chúng ta sinh sống tàn tệ trong xứ chúng ta, vì sao chúng ta không biết, không biết cách cai trị, cũng như không biết cách lật đổ những chính phủ tồi tệ, vì sao chúng ta có khuynh hướng tự đề cao khả năng thích ứng nhằm che giấu những bất lực của chúng ta.
Bổn phận đầu tiên của một trí thức lưu vong là phải đứng trần truồng trước tấm gương đau buồn của sự cô đơn trong một khách sạn ở ngoại quốc và ở đó, không trốn chạy vào trong sự dễ dãi tầm thường và dù thiếu ngôn từ so sánh, thử nhận dạng lại vóc dáng thật của chính mình.
Julio Cortázar
Trần Vũ dịch từ bản Pháp văn Cortázar parle de l’exil
Bản Việt ngữ đăng lần đầu trên Talawas ngày 19 tháng 10-2010, hiệu đính qua góp ý của Trương Nhân Tuấn và họa sĩ Nguyễn Đình Đăng.


