Hỡi nhân loài nghe chăng tiếng hát,
tiếng kêu oan từ bao con người?
Nó là âm nhạc của một giống dân
từ nay không còn lệ thuộc bởi ai.

Bản “Do You Hear The People Sing?” trong vở nhạc kịch ‘Les Miserables’ ngày nay đã trở thành một quốc-tế-ca, được dịch ra nhiều thứ tiếng và hát khắp mọi nơi. Nhiều người dù chưa từng xem ‘Les Miz’ bao giờ cũng biết tới nó. Và ai đã nghe qua một lần thì cũng khó mà quên được nó. Với tiết nhịp quân hành hùng hồn, giai điệu bi tráng, lời lẽ không cầu kỳ nhưng sắc bén, “Hear The People Sing” xứng đáng nằm trong danh sách những bản nhạc hay nhất của ca nhạc kịch mọi thời đại.
Như đã viết trong một bài trên báo Trẻ năm ngoái, vở nhạc kịch này được dựa theo quyển tiểu thuyết cùng tựa của đại văn hào Victor Hugo. Dù được đặt trong bối cảnh nước Pháp giữa thập niên 1800, nhưng Hugo đã tạo nên những nhân vật vượt không gian và thời gian ta có thể tìm thấy ở bất cứ xã hội nào, kể cả Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà nhà văn Nam bộ Hồ Biểu Chánh đã dễ dàng biến người tù Jean Valjean tận bên trời Tây thành gã ở đợ tên Lê Văn Ðó, sống tại Vồng Tre trào Gia Long. Giống như Valjean ăn trộm bánh mì, Văn Ðó ăn trộm nồi cháo và bị tù chung thân.

Từ khi vở nhạc kịch ‘Les Miz’ ra đời đến nay không biết bao nhiêu triệu người đã đi xem Jean Valjean đấu trí với cảnh sát trưởng Javert tại West End của London, Broadway trên New York, và vô số đoàn tour khắp nơi trên thế giới. Ðó là chưa tính số người đã xem phim ‘Les Miserables” (2012) do Hugh Jackman (Valjean) và Russell Crowe (Javert) thủ diễn. ‘Les Miz’ còn là vở nhạc kịch được diễn liên tục lâu nhất tại West End và đứng hàng thứ ba về doanh thu, sau ‘Cats’ và ‘Phantom of the Opera’. Ðiểm đặc biệt là cả ba vở này đều do Sir Cameron Mackintosh sản xuất, chỉ khác ở chỗ nhạc ‘Les Miz’ do nhạc sĩ Pháp Claude-Michel Schönberg soạn, còn nhạc hai vở kia là của Sir Andrew Lloyd Webber. Sau ‘Les Miz’ Schönberg đã soạn nhạc cho vở ‘Miss Saigon’ cũng thành công vang dội—nhưng ta hãy để dành bài viết về vở đó cho một kỳ khác.
Nhạc kịch ‘Les Miz’ trong chuyến lưu diễn toàn quốc lần này là một phiên bản mới, ra năm 2014, hoàn toàn khác với bản gốc đang diễn ở West End và cũng khác phiên bản từng diễn ở Broadway. Trước hết, phần hoà âm đã được soạn lại cho gọn ghẽ, đòi hỏi ít nhạc công hơn. Một số kịch cảnh và vài bản nhạc cũng đã được cắt bớt, giảm lượng thời gian xuống từ hơn ba tiếng đồng hồ xuống còn chừng hai tiếng mấy. Sự thay đổi lớn nhất trong phiên bản mới là cách thiết kế sân khấu của Matt Kinley dưới tài điều khiển của đạo diễn Laurence Connor. Phần hồn cốt của truyện vẫn được giữ nguyên vẹn nhưng mạch truyện nhờ vậy trôi chảy nhanh gọn và trơn tru hơn. Tuy nhiên có lẽ vì vậy mà khi màn hạ người xem vẫn có cảm giác tiếc nuối, như được ăn ngon mà chưa đủ no.

Ðể tái tạo bầu không khí của nước Pháp vào thế kỷ 19, Matt Kinley đã khéo léo sử dụng kỹ thuật video hiện đại để phóng lên sân khấu hình ảnh các bức tranh do chính Victor Hugo vẽ. Có lẽ ít ai biết văn hào còn là một hoạ sĩ tầm cỡ. Giải pháp này của Kinley cũng đã giảm thiểu phần nào số lượng đạo cụ cần thiết trên sân khấu, chừa chỗ cho những màn thật sự cần có hậu cảnh hoành tráng—chẳng hạn như màn nhóm sinh viên dựng rào cản chống trả quân đội Pháp, hoặc màn tiệc cưới của Cosette và Marius. Khác biệt lớn nhất giữa phim và kịch chính là cách đạo diễn sắp xếp sân khấu sao cho hợp lý để không mất thì giờ chuyển cảnh từ màn này sang màn khác. Ngoại trừ 20 phút giải lao, vở nhạc kịch đã trôi liên tục từ đầu tới cuối không ngừng lại dù một giây. Các nhân vật thay phiên nhau xuất hiện và biến mất trên sân khấu với tốc độ gần như khó tin nhờ cách bố trí và sử dụng ánh sáng vô cùng sáng tạo và thông minh.
Ngoài phần ánh sáng và dàn dựng ra, một cái hay nữa của vở nhạc kịch này là trang phục của diễn viên, do Laura Hunt đảm trách. Laura Hunt từng đoạt nhiều giải thưởng về thiết kế y trang cho ca nhạc kịch trên Broadway, và trong phiên bản ‘Les Miz’ này cô đã không làm người xem thất vọng. Áo quần, giày vớ của mỗi nhân vật đều được chọn lựa kỹ lưỡng và thật chi tiết, từ màu sắc cho đến loại vải. Dĩ nhiên tất cả đều hợp thời trang của thế kỷ 19, nhưng quan trọng hơn cả là y phục luôn được đi đôi với nhân vật và tình huống, nghĩa là nếu cần xấu hoặc dơ là phải thật xấu hay thật dơ, chứ không phải lúc nào cũng sạch sẽ đẹp đẽ—ví dụ như chiếc áo nhớp nhúa bùn sình của Thenardier dưới ống cống của Paris, hay lai quần rách bươm của cậu bé bụi đời Gavroche và chiếc áo veston cài nút cao nút thấp. Ðành rằng đối với đa số người xem trong một khán trường rộng lớn thì những chi tiết này quá nhỏ để người ta phải để ý, nhưng điều này hé lộ phong cách làm việc nghiêm chỉnh và chuyên nghiệp của kịch đoàn và nhà đạo diễn.

Tất nhiên khi nói đến nhạc kịch thì bộ phận quan trọng hơn hết vẫn là phần nhạc. Vì dẫu cho kịch bản có hay cách mấy, thiết kế sân khấu có đẹp cách mấy, diễn viên có xuất sắc cách mấy mà nhạc không hay, âm thanh không nổi, hoặc diễn viên hát dở thì cũng vứt đi. Nhạc của ‘Les Miz’ thì khỏi phải nói. Không những đây là một vở nhạc kịch đã thắng nhiều giải Tony Award (Best Musical, Best Score) mà ca từ do Herbert Kretzmer dịch từ bản gốc tiếng Pháp sang tiếng Anh còn là một tuyệt tác. Theo lời kể của Kretzmer, anh ta chỉ được cho có 5 tháng để hoàn tất công việc vô cùng khó khăn này. Khi kịch đoàn bắt đầu tập dượt anh chỉ mới làm xong Màn 1. Gần đến ngày khai trương một số bài chủ lực như ‘Bring Him Home’ vẫn chưa có lời. Nhưng cuối cùng thì mọi chuyện cũng phải xong. Sau đêm mở màn, ngày hôm sau các tờ báo lớn ở Anh đều có bài phê bình và đa số đều… chê thậm tệ. Kretzmer kể rằng mới đầu anh ta cũng cảm thấy thất vọng ghê gớm, nhưng không ngờ dân London không thèm tin mấy bài báo mà cứ đứng xếp hàng mua sạch vé. Lời truyền miệng lan khắp Luân Ðôn, ‘Les Miz’ không mấy chốc trở thành vở nhạc kịch nóng nhất West End vào năm 1985 và giờ đây là nhạc kịch sống dai thứ nhì sau ‘The Fantasticks’ (1960-2000).
Ðến Dallas lần này, ‘Les Miz’ đã diễn tại Fair Park Music Hall trong vòng hai tuần lễ và cũng cháy vé. Khán giả đi xem có đủ lứa tuổi già trẻ bé lớn; tuy đa số là Mỹ trắng nhưng cũng có khá nhiều người da màu. Ðặc biệt có nhiều người trẻ ở lứa tuổi sinh viên, có thể vì trong câu chuyện ngoài hai nhân vật lớn tuổi là Valjean và Javert còn có một số nhân vật phụ nhưng quan trọng không kém là các sinh viên trong cuộc nổi dậy chống chính quyền. Enjolras, lãnh tụ cuộc cách mạng, và Marius, người yêu của Cosette (con nuôi Jean Valjean) là hai nhân vật đóng vai chủ chốt trong Màn 2 do đó có nhiều bản nhạc solo rất bi hùng. Chẳng hạn như bài “Empty Chairs At Empty Tables” do Marius hát sau khi cuộc cách mạng bất thành và bạn bè của anh, mới hôm trước còn ngồi quanh đùa vui ca hát, giờ đã chết hết. Có thể nói đây là bài hát có ý nghĩa nhất trong toàn vở nhạc kịch mặc dù không được biết đến nhiều như “Hear The People Sing”:

There’s a grief that can’t be spoken,
There’s a pain goes on and on.
Empty chairs at empty tables,
Now my friends are dead and gone.
Here they talked of revolution,
Here it was they lit the flame,
Here they sang about tomorrow and tomorrow never came.
Có một nỗi đau không nên lời
Như cơn nhức không bao giờ nguôi
Những chiếc ghế nay không ai ngồi
Không bóng dáng bao người bạn tôi
Nơi đây có ta đêm quây quần
Nơi ta đấu tranh cho ngày mai
Nơi ta đã hát vang lên bao lần
Nhưng tiếng ca đã lìa xa rồi…

Xem vở ‘Les Miserables’ lần này làm nghĩ tới một vở nhạc kịch mới đây ở Sài Gòn mang tên ‘Tiên Nga’, dựa theo nhân vật Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga của Nguyễn Ðình Chiểu, do soạn giả Minh Ngọc và Thành Lộc chuyển thể. Mặc dù chưa được xem vở nhạc kịch này nhưng nghe tác giả Minh Ngọc kể lại rằng nhiều đoạn khán giả quá hứng chí vỗ nhịp hát theo, nhiều người coi xong đã ứa nước mắt. Ước gì một ngày nào đó Việt Nam cũng sẽ có được những vở nhạc kịch tầm cỡ quốc tế được mang đi trình diễn tại những rạp ở West End hay Broadway. Có lẽ đấy chỉ là một giấc mơ không tưởng—như giấc mơ của một Susan Boyle, người phụ nữ lớn tuổi với ngoại hình dưới trung bình, đã can đảm đóng vai nhân vật Fantine của ‘Les Miz’ trong chương trình Britain’s Got Talent để làm rung động trái tim thế giới:
And still I dream he’d come to me
That we would live the years together
But there are dreams that cannot be
And there are storms we cannot weather
Em luôn luôn mơ rồi anh sẽ tới
Đi theo bên em cùng bao tháng ngày xa
Nhưng trong cơn mơ tầm tay khó với
Như bao cơn giông ta không thể vượt qua…
IB 2018.05