Đến nay, tôi mới có dịp trở lại ngôi làng Versailles nằm ở phía đông New Orleans, nơi từng gánh chịu nhiều mất mát trong cơn bão Katrina kinh hoàng hồi sáu năm trước. Khắp nơi một màu xanh cây lá, những ngôi nhà mới, nhà thờ, trường học khang trang thể hiện một sự hồi sinh mạnh mẽ. Tuy nhiên, có một cái gì đó phảng phất buồn trong gió mà lẽ ra phải vui tươi, rộn ràng khi nghe “từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung…” (Làng tôi – Văn Cao) của một ngôi làng có gần ngàn ngôi nhà người Việt sống quây quần quanh nhà thờ Maria Nữ Vương.

Làng Versailles sau cơn bão Katrina
Ngọc Linh
Đó chỉ là cảm nhận khách quan lòng vòng khắp xóm đi tìm kiếm hương vị ngôi làng qua hình ảnh những vạt rau trái hay từng bụi chuối bên hông nhà. Làng không có lũy tre xanh chở che thôn xóm, bóng cau râm mát sau hè nhưng có nhiều dòng sông nổi đầy lục bình tim tím chẳng buồn trôi dễ làm lòng người man mác nhớ về quê xưa. Ở xứ này khó tìm đâu ra được hình bóng làng quê xa một cách gần gũi thân thương như thế. Nơi đây, ta được ngắm nhìn những cụ bà đầu đội nón lá, chậm bước đến nhà thờ trong tiếng chuông ngân; được thấy hình ảnh chợ phiên cuối tuần mà người bán ngồi chồm hổm bày biện mớ tôm mớ cá, bó rau xanh mượt mới cắt sau vườn nhà; được nghe câu chuyện láng giềng hằng ngày của bà con làng trên xóm dưới. Chẳng thế là mối tình thân, gắn kết cộng đồng dù cuộc sống có mang họ rời xa làng quê biển Phước Tĩnh, Vũng Tàu yêu dấu trôi dạt đến xứ người như những về lục bình lững lờ trên sông may mắn tìm được bến đỗ bình yên.
Nhưng rồi họ bị buộc phải ra đi một lần nữa khi cơn bão Katrina nhấn chìm thành phố trong biển nước. Sau con lũ dữ, họ là những người đầu tiên trở về để gây dựng lại những gì đã mất. Họ có cách của mình. Xắn tay áo lên thu dọn đống điêu tàn rách nát khắp nơi, dựng lại nhà thờ trước khi chính quyền trợ giúp. Chắc hẳn dân làng không phải tiếc những vật chất mà họ đổ mồ hôi làm ra trong gần ba mươi năm trời tha phương nơi đất lạ quê người. Họ tiếc nuối những kỷ niệm, nỗi niềm, những công việc gắn liền với cuộc sống, với mảnh vườn, với con tàu đánh bắt đã nuôi sống gia đình bao nhiêu năm. Nơi đây mới chính là quê hương thứ hai của họ và cũng là quê hương cuối cùng bởi thời gian định cư ở vùng đất mới còn dài hơn cả hai cuộc ra đi từ Bắc vào Nam 1954 và cuộc vượt biên lênh đênh trên biển đi tìm cuộc sống mới sau năm 1975. Họ không còn thời gian để làm lại từ đầu. Có thể giới trẻ cho rằng đó là cách sống của những người già, cổ hủ, chậm tiến không theo kịp cách sống sôi động mà nó đòi hỏi một sự năng động mạnh dạn luôn tìm đến cái mới chỉ dành riêng cho tuổi trẻ. Bao năm dân làng mưu sinh ở đây không khác gì đang sống trong ngôi làng xưa đầy ắp những hình bóng hoài niệm một thời chân quê. Dân làng tha hồ trồng đầy rau muống trên những dòng kênh thoát nước mà cứ ngỡ mương làng, ao nước trước nhà quê cũ cũng chỉ để “Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”. Họ muốn giữ lại nét phong vị thôn làng, cách sinh hoạt đơn thuần, cái gốc của tâm hồn Việt và trong thâm tâm chẳng thấy thoải mái chút nào khi được làm người Mỹ.
Dân làng trở về nhưng chỉ được phép nhìn rồi ra đi dưới mệnh lệnh của chính quyền thành phố. Họ bị đẩy ra khỏi mảnh đất của mình, khỏi ngôi làng Versailles trong dự án tái thiết New Orleans. Cuộc đấu tranh giành quyền được cư ngụ của dân làng giáo xứ Maria Nữ Vương dưới sự lãnh đạo của cha Nguyễn Viễn và cha Nguyễn Luke với chính quyền đã làm không khí tranh luận trong tòa thị chính nóng lên với những câu hỏi dồn dập. Cuối cùng chiến thắng thuộc về người dân với dự án có khu nhà hưu dưỡng, trường học, phòng khám bệnh, khu trồng trọt chăn nuôi… Thế nhưng, niềm vui chưa tắt nụ cười thì thị trưởng dùng quyền hạn quyết định khẩn cấp mở khu thu dọn rác rưởi Chef Menteur cách không xa ngôi làng Versailles. Nước thải có thể làm ô nhiễm con sông –
nguồn nước tưới vườn rau trái của làng. Một cuộc đấu tranh mới tiếp diễn bắt đầu bằng những cuộc biểu tình từ trẻ đến già và các tổ chức xã hội khác không cho xe vào bãi đổ rác. Trải qua những cuộc thương lượng, đấu tranh kiện tụng tại pháp đình tiểu bang, liên bang, một lần nữa nụ cười lại trở về trên khuôn mặt của mọi người dân làng Versailles. Bãi rác đóng cửa vĩnh viễn.

Nguyên dân biểu Liên Bang Cao Quang Ánh trong cuộc biểu tình chống đổ rác.
Tất cả những hình ảnh đó được đạo diễn Leo Chiang một người Mỹ gốc Đài Loan ghi lại và thực hiện thành bộ phim thời sự dài với tựa đề “A Village Called Versailles” (Ngôi làng mang tên Versailles). Bộ phim nói lên được tinh thần đoàn kết đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của một cộng đồng thiểu số sống trên một đất nước dân chủ mà lẽ ra chính họ phải được có quyền có tiếng nói chung dù rằng đó là một ngôi làng nhỏ bé so với một thành phố trong một cộng đồng lớn chung nhất. Một nét mới trong xã hội Mỹ đối với các cộng đồng nhỏ quần cư sinh sống. Chính vì thế sự kiện đề cử Giải Xuất Sắc phim thời sự trong mục “Outstanding Continuing Coverage of a News Story” thuộc giải Emmy quốc gia năm 2010 dành cho bộ phim này cũng không có gì là lạ.

Một khu thương mại được xây dựng lại sau cơn bão
Tuy không lấy được giải Emmy danh giá nhưng dẫu sao đó cũng là niềm tự hào của đạo diễn Leo Chiang và cũng là niềm tự hào chung của cộng đồng người Việt trên khắp nước Mỹ không riêng gì người dân sống ở làng Versailles. Leo Chiang nói với báo giới: “Chúng tôi cảm thấy hân hạnh vô cùng khi được đề cử. Cuốn phim dường như lớn mạnh, mỗi lúc mỗi có thêm khán giả mới, do người ta đồn với nhau… Cuốn phim này được dàn dựng không để thuyết giáo một ai. Câu chuyện A Village Called Versailles là cuốn phim tạo cảm hứng để chia sẻ một phần nhỏ trong đời sống lịch sử xã hội Hoa Kỳ… Bạn không thể không coi phim này…”. Cuốn phim dài 75 phút, dàn dựng công phu với những phân cảnh đầu phim của người dân làng qua hai cuộc ra đi từ đất nước có hình chữ “S”. Thực hiện bộ phim này, Leo Chiang đã mất hết hai năm rưỡi thu thập dữ liệu, phỏng vấn những người thật việc thật cho đến khi hoàn tất và công chiếu tại Irvine, California và giới thiệu ra thế giới hồi tháng 10 năm 2009.
Chuyện cũ nhắc lại một chút để tôi trút bỏ gánh nặng trong đầu về viễn cảnh ngôi làng Việt có vùng rau xanh, ao cá, bàu sen, một hình ảnh nông thôn Việt Nam trên nước Mỹ mà tôi có nhắc tới trong bài viết “Văn hóa vườn Nhật và ngôi làng Việt” mới đây trên Trẻ Magazine. Thế mà, giờ đây tôi đứng trước mảnh đất ngôi làng trống hoác toàn cỏ là cỏ. Tiếc cho một dự án “Viet Village Urban Farm” được giải thưởng sân vườn Mỹ. Một dự án bị treo và treo cho đến bao giờ? Tôi tự hỏi và lại đi lên đi xuống quanh làng Versailles lần nữa như thể cố tìm thêm một nét văn hóa làng gì đó mà có thể bất chợt nhận ra. Con đường trưa vắng bóng người, một bóng bà cụ vừa đi khuất, tấm bảng “bán tôm tươi” dựng trước vỉa hè. Tất cả yên ắng quá! Giá lúc này có tiếng gà gáy ban trưa khuấy động thì hay biết mấy.
Một thực tế, sau cơn bão nhiều người dân đã ra đi sống ở những tiểu bang khác. Hiện số dân làng Versailles và vài thị trấn phụ cận chừng bốn ngàn người, vơi gần phân nửa so với trước kia. Những cơ sở thương mại phục vụ người Việt không còn đông khách, chắn hẳn bị ảnh hưởng kèm theo của tình trạng kinh tế suy thoái kéo dài. Nhiều nơi, trên con đường chính nhiều cửa hàng, nhà cửa còn hoang tàn đổ nát mà chủ cũng chẳng buồn xây dựng lại hay rao bán nó đi. Bán ai mà mua ở vùng đất thấp đầy thiên tai đe dọa. Chỉ có dân làng là còn trụ lại sau những ngày chạy bão, do đó Versailles vẫn còn “tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung…
NL